(Cadn.com.vn) - Sở Công Thương TP Đà Nẵng vừa tổ chức Hội nghị tập huấn công tác hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT), thực thi các cam kết WTO và việc áp dụng các chính sách thương mại trong thời kỳ hội nhập với sự diễn giải của nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, Chuyên gia kinh tế cao cấp của Văn phòng Chính phủ - Trương Đình Tuyển. Theo ông Trương Đình Tuyển, NHKTQT đã mang lại những kết quả to lớn cho đất nước nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức, khó khăn, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu kéo dài, đòi hỏi Việt Nam cần phải điều chỉnh chính sách thương mại trong bối cảnh mới.
Tiến trình HNKTQT của nước ta theo nhiều kênh khác nhau (song phương, khu vực và toàn cầu) và ngày càng sâu rộng. Cột mốc đánh dấu nước ta chính thức HNKTQT là vào tháng 1-2007, Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Kết quả đạt được sau hơn 5 năm gia nhập WTO, đó là vốn đầu tư tăng mạnh, nhất là đầu tư từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI); thị trường xuất khẩu được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh. Đơn cử, chỉ trong giai đoạn 2001-2010, nếu như năm 2001, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt hơn 10 tỷ USD thì đến năm 2010 đã tăng lên hơn 70 tỷ USD. Đặc biệt là tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này có tốc độ cao trong khu vực và thế giới, ngay cả khi kinh tế toàn cầu gặp khủng hoảng. Riêng trong năm 2010, tổng sản phẩm bình quân tính trên đầu người đạt 1.168USD đã đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước có thu nhập thấp, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình; tốc độ giảm nghèo cũng diễn ra nhanh: năm 2001, tỷ lệ hộ nghèo là 17% thì đến năm 2010 giảm xuống còn 9,45%. Hệ thống pháp luật được hoàn thiện, cải cách hành chính đạt nhiều kết quả tích cực. Vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao...
 |
|
Một siêu thị kinh doanh hàng điện máy tại TP Đà Nẵng. |
Tuy nhiên, HNKTQT cũng gây ra nhiều khó khăn, thách thức như: năng suất chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế thấp; cạnh tranh gay gắt trên cả 3 cấp độ mà biểu hiện cụ thể là nhập siêu ở mức cao và chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia chậm cải thiện; khoảng cách giàu - nghèo giãn ra; lạm phát cao và kinh tế vĩ mô không ổn định suốt từ năm 2008 đến nay; quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập, lúng túng trong phản ứng chính sách trước những biến động của kinh tế thế giới; ô nhiễm môi trường nghiêm trọng...
Để tận dụng những cơ hội cũng như vượt qua các thách thức khi HNKTQT trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế và tự do hóa thương mại trở thành xu thế lớn, theo chuyên gia Trương Đình Tuyển cần điều chỉnh chính sách thương mại trong bối cảnh mới. Trước hết là tư duy chính sách thương mại mới. Chính sách thương mại phải đặt trong tổng thể chiến lược hội nhập, kết hợp yêu cầu thuận lợi hóa thương mại (tại biên giới và sau biên giới), kết hợp với chính sách đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh và điều tiết thị trường... phù hợp với các định chế hội nhập. Thay đổi nội hàm của chính sách thương mại: xâm nhập vào chuỗi giá trị chứ không chỉ là xuất khẩu thuần túy hoặc là chiếm lĩnh thị trường nội địa, từ đó phải thúc đẩy liên kết để hình thành chuỗi cung ứng ngay trên thị trường nội địa gắn với cơ chế điều tiết thị trường hiệu quả. Tăng cường năng lực thể chế để có thể thực thi các biện pháp thương mại công bằng (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tiêu chuẩn SPS, hàng rào kỹ thuật...) và các biện pháp phi thuế quan tinh tế hơn. Đặc biệt, thực hiện một chính sách thương mại thúc đẩy sản xuất và bảo vệ người tiêu dùng, lấy người tiêu dùng làm chủ thể.
Về khuôn khổ cho một chính sách thương mại mới cần xây dựng lộ trình gia nhập các hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều kênh khác nhau như: đơn phương, song phương, khu vực, đa phương dựa trên WTO; nghiên cứu tiền khả thi để đánh giá tác động của FTA trước khi quyết định tham gia (lợi ích chính trị - chiến lược, lợi ích kinh tế); chủ động xây dựng và thực thi các biện pháp thuận lợi hóa thương mại tại biên giới và sau biên giới trên cơ sở các thực tiễn tốt nhất của các đối tác trong các FTA, nâng cao chỉ số tự do kinh doanh, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp; phát triển thương mại nội địa, hình thành các chuỗi cung ứng từ sản xuất đến xuất khẩu và tiêu dùng; tạo lập thị trường cạnh tranh, kiểm soát độc quyền tự nhiên, chống cạnh tranh không lành mạnh; xây dựng và thực thi các biện pháp thương mại công bằng; tăng cường các thiết chế bảo vệ người tiêu dùng, nhất là phát triển các trung tâm bảo vệ người tiêu dùng.
Rõ ràng, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu kéo dài, đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh chính sách thương mại và đó là tất yếu quyết định sự “sống còn” và phát triển của nền kinh tế đất nước.
Bài, ảnh: Phú Nam