Trang chủ                    Chính trị & Xã hội                    An ninh đời sống                    Quốc tế                    Pháp luật                    Kinh tế                    Văn hóa                    Du lịch                    Thể thao                    Giải trí                    Liên hệ tòa soạn      
Văn hóa văn nghệ
Quê thiêng -một bài thơ hay, vì giản dị

(Cadn.com.vn) - “Sông thiêng”, “núi thiêng”, cách gọi này đã quen. Ở đây, nghĩa của từ nằm trong sự đối nghịch - thống nhất của hai yếu tố vật chất và tinh thần. Nhưng “quê thiêng” của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ, thì dường như là cách nói hơi... lạ. Và mới.

Quê, ở đây hẳn nhiên không phải là quê quán (cụ thể quá). Cũng không phải là quê hương (hơi trừu tượng) hay quê nhà (hơi thực thà và chật hẹp). Tất nhiên, những “giải minh” vừa dẫn chỉ là sự so sánh tương đối, như hầu hết mọi so sánh khác. Bởi vì, nghĩa và ý của mỗi một từ sẽ biến hóa theo từng ngữ cảnh. Và đó cũng là lý do để ngôn ngữ tồn tại – phát triển, trong đó có sự đóng góp của các nhà thơ.

“Quê thiêng”, là cách nói vừa cụ thể vừa gợi mở, trong ý niệm chiếm lĩnh thời gian - lịch sử, cách nói mà chỉ có thơ mới có khả năng đạt đến. “Những biền dâu xanh ngát/ những lọn tơ óng vàng/ và sông Thu dào dạt/ đã làm nên hồn tôi”. Khổ thơ mở đầu của bài thơ Quê thiêng là một sự... vô lý: những hiện tượng thiên nhiên và những sự vật khách quan không thể tạo tác nên những khí quan nhận biết của sinh - vật - người, nếu nhìn ở thời điểm cái - gọi – là “hồn” này được sinh ra. Nhưng hãy nghe tác giả chứng minh sự vô lý này bằng một diễn trình không - phi – lý: “dù đi bốn phương trời / vẫn nhớ về quê cũ/ mảnh đất lành phên giậu (*)/ rạng hồn thiêng tổ tiên”. Ở đây, cái “hồn” cá thể đã hóa thành thời gian, ký ức của một lịch sử thấm đẫm hơi thở đời sống của cả một cộng đồng người Việt trải suốt chiều dài dựng nước - giữ nước. Đến đây, thì câu hỏi vì sao quê lại “thiêng” đã được hiển lộ: cuộc đấu tranh để tồn tại của bao thế hệ cha ông đã thổi vào những núi những sông kia sự sống của người. Thực ra, về đặc điểm địa lý, vùng đất mới Quảng Nam không “dễ sống” đối với những lưu dân mới đặt chân đến nơi đây, nhưng những điều kiện khắc nghiệt về nhiều mặt của khu vực này đã dần trở nên “lành” hơn dưới tác động của những chủ nhân mới. Hay nói khác đi, đất hóa “lành”, chính là do Lòng Yêu của con người đã gửi trao cuộc đời vào đất.

Trong câu thơ thứ ba, của khổ thơ thứ ba “thơ vượt qua lệ bỏng”, ta có thể nghe tiếng gươm khua của một thời đi mở cõi cách nay khoảng 500 năm, và giúp ta có thể thấm tận những ánh rực rỡ và những đớn đau của bao thế hệ tiền nhân. Để làm gì? Không phải cho riêng ai, mà để làm nên cái tính cách, cái hào khí của người Quảng Nam: sông núi bao người hiền/ quật cường bầu máu nóng/ thơ vượt qua lệ bỏng/ thành thanh khí nghìn năm.

 Quê

Hai khổ thơ tiếp theo là sự phát triển của bài thơ trong quá trình miêu tả những đặc điểm và khí chất của đất và người, gắn với lịch sử, được nhấn mạnh bởi những sự kiện lịch sử cận đại: lòng như ánh trăng rằm/ xuyên màn đêm danh lợi/ thẳng ngay nào phải tội / pháp trường đầu ngẩng cao/ mạch sống luôn dâng trào/ đất nghèo người hiếu học/ tre chưa già măng mọc/ mắt không rời tương lai. Nếu phải nói rõ hơn, đấy chính là những sự kiện về những con người đầy khí tiết mà điển hình là những cái chết của Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân..., về lục phụng bất tề phi và cả ngũ phụng tề phi...

Hai câu thơ sau của khổ thơ thứ năm, về mặt vận động của bản thân quá trình sáng tạo bài thơ, có thể xem như câu thơ “dẫn lưu” hơi sớm, để đi đến cái kết của bài thơ. Nhưng về mặt nội hàm tư tưởng của bài thơ, tự dưng, hai câu thơ này bỗng trở thành một dự phóng của ý thức cộng đồng: “Tre chưa già măng mọc/ mắt không rời tương lai”. Ở hai câu thơ có vẻ không đáng chú ý này (về mặt ngôn ngữ nghệ thuật), tôi tin rằng, Tần Hoài Dạ Vũ cũng không cố ý trình bày điều tôi vừa thử giải mã. Nhưng đấy chính là niềm hạnh phúc của thi sĩ: sự ban tặng của tự nhiên cho những giây phút bay bổng của quá trình sáng tạo. Nói thế, là để trở lại với cái từ “quê thiêng”, nhan đề bài thơ: khi một cá thể đã gửi trọn tâm hồn cho mảnh đất mình yêu thương gắn bó thì anh linh của tiên tổ, hồn thiêng của đất nước, núi sông sẽ hiện ra như một ánh phản chiếu dịu dàng trên đời cá nhân ấy. Và cái gọi là “đời ta” ở câu thơ kết thúc, cái Ta ấy, không còn là một cá thể, mà chính là đời sống của cả cộng đồng, những người đã sinh ra, lớn lên, sống và chết với mảnh đất này: tạ ơn con sông dài/ chảy vào lòng thương nhớ/ hồn quê như ngọn gió/ thao thức suốt đời ta. Chính vì thế, “tạ ơn con sông dài” không chỉ là tấm lòng hướng về dòng Trường Giang kia và tất cả những gì nằm trong vùng đất với phía bắc là đèo Hải Vân, phía nam là Dốc Sỏi, mà đã “vượt địa giới” để đến với một thực thể rộng lớn hơn: Đất và Người Việt Nam.

Về mặt hình thức thi ca, trừ hai từ “lệ bỏng” ở khổ thơ thứ ba, bài thơ không có những “từ hay”, theo cách hiểu quen – và – cũ. Xuyên suốt cả bài thơ, là một thứ ngôn ngữ như lời nói bình thường, mà thực chất, đó chính là vẻ đẹp của khái niệm “đạm” trong nhận thức thẩm mỹ của nhà phê bình văn học nổi tiếng Viên Mai (Trung Quốc) : cái “đạm” sau khi đã “nồng”.

Sẽ không bao giờ vắng bóng những con người sống trong niềm khát vọng hướng về cái Đẹp, cái Đúng và luôn đấu tranh cho lý tưởng ấy. Quê thiêng, như thế, là một Tình – Yêu – Thao - Thức. Của trách nhiệm công dân. Của con người.

Nguyễn Đông Nhật

(*) Trong Dư địa chí, Nguyễn Trãi gọi vùng Quảng Nam xưa (Hòa Châu) là "phên giậu" phía Nam của Tổ quốc.


In bài này Email bài này
CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG
Hội thảo "Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa gia đình Việt Nam": Giới trẻ cần nhận thức đúng đắn về tình yêu, hôn nhân và gia đình ( 30/6/2009 )
Có một miền khát vọng ( 29/6/2009 )
Vĩnh biệt Vua nhạc pop Michael Jackson ( 27/6/2009 )
Nguyễn Thế Đức và “khát vọng Tây Nguyên” ( 26/6/2009 )
Trong quán vắng ( 26/6/2009 )
Những người trẻ đam mê ( 25/6/2009 )
Lặng lẽ Hoàng thành ( 24/6/2009 )
Hướng đến Tuần lễ văn hóa du lịch Đắc Lắc 2009: Tháng 6 ở Ban Mê ( 22/6/2009 )
Trải lòng qua mỗi thước phim ( 22/6/2009 )
Thư viện Hoàng cung đầu tiên của Việt Nam sẽ được thành lập tại Huế ( 20/6/2009 )
Người Giẻ Triêng không còn tục thiên táng ( 19/6/2009 )
Nghe chuyện “Chém vè giữa làng báo Sài Gòn” ( 18/6/2009 )
Đưa phim về với bà con xã đảo Cù Lao Chàm ( 17/6/2009 )
“Tôi là người Pa Kô” ( 15/6/2009 )
Một số hoạt động trong khuôn khổ Festival nghề truyền thống Huế 2009 ( 14/6/2009 )
BÌNH LUẬN CHO BÀI VIẾT NÀY
Họ và tên  
Địa chỉ E-Mail   
Địa chỉ  
Số điện thoại
  Di động  
Tiêu đề  
Nội dung
Tắt bộ gõ Tự động Telex Telex VNI VIQR
TIN ĐỌC NHIỀU NHẤT
Vài nét về tôn tượng Phật ngọc- kỳ quan thế giới tại Lễ hội Quán Thế Âm 2009
Người đẹp Đà Nẵng đăng quang
Cách hành xử đáng buồn!
Sơ lược về 30 người đẹp dự thi
Hoa hậu Trần Thị Thùy Dung và những áp lực dư luận
Mỗi mét vuông sông Hàn đều có thể sinh ra tiền
Xung quanh những thông tin Hoa hậu Trần Thị Thùy Dung chưa tốt nghiệp THPT
Theo chân người đẹp lên núi, xuống biển
30 người đẹp đã sẵn sàng
Những thông tin mới nhất về cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2009
 

Malaysia kinh hoàng vụ tấn công nhà trẻ
Chiến dịch dọn đường?
"Nội chiến"
Mất đất vì vàng
“Vạc đêm” sa lưới
Khó khăn của Toyota và bài học cho ngành xe hơi Trung Quốc
Thẻ ABTC góp phần thúc đẩy giao lưu và hợp tác phát triển kinh tế quốc tế
Kết thúc giải cầu lông truyền thống CATP Đà Nẵng Cúp Tiến Thu 2010
Đà Nẵng: Triển khai một số điểm mới trong công tác tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2010 đến tận cơ sở
Máu vẫn đổ trên trận tuyến chống ma túy (2)
Trang chủ
Văn bản chính sách
Sức khỏe
Lịch sử tờ báo
Vật tìm người - Người tìm vật
Tin tức mọi mặt
Hồ sơ tư liệu
Cơ quan của Công an Thành phố Đà Nẵng
62 Phan Châu Trinh - TP Đà Nẵng - Tel: 0511 3822626  *  3824892  *  3810492 - Fax : 0511 3824892  *  3822795 - Email: baocadn@gmail.com