Báo Công An Đà Nẵng

TƯ VẤN PHÁP LUẬT

Di sản thừa kế và cách xác định di sản thừa kế

Thứ sáu, 02/10/2026 16:08
Luật sư Ngô Phước Cường

*Luật sư Ngô Phước Cường – Trưởng Chi nhánh 2 TP Hồ Chí Minh thuộc Văn phòng Luật sư Phong & Partners trả lời:

Từ những thông tin anh Tuấn cung cấp, để xác định chính xác phạm vi di sản của ông Trần Tí trước khi phân chia thừa kế, cần xem xét nguồn gốc, tính chất pháp lý của từng tài sản và đối chiếu với các quy định pháp luật có liên quan. Trên cơ sở đó, chúng tôi xin trao đổi một số nội dung như sau:

1. Quy định chung về di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế

Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác.”

Ông Trần Tí qua đời ngày 05/05/2026 và không để lại di chúc. Do đó, về nguyên tắc, di sản của ông sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm: “vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Theo thông tin anh Tuấn cung cấp, giả định ông Tí không còn cha, mẹ và không có người thừa kế khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất, thì những người thừa kế hàng thứ nhất của ông gồm bà Lý Thị Bích và 3 người con là Trần Thắng, Trần Chí và Trần Tuấn. Tuy nhiên, trước khi tiến hành chia thừa kế, cần xác định chính xác phạm vi di sản. Không phải toàn bộ tài sản đứng tên ông Tí đều đương nhiên là tài sản riêng và được đưa toàn bộ vào di sản. Cần phân biệt tài sản riêng của ông Tí với phần tài sản của ông trong khối tài sản chung của vợ chồng.

2. Xác định di sản thừa kế đối với từng loại tài sản

a) Căn nhà và thửa đất trị giá khoảng 6 tỷ đồng

Theo thông tin anh Tuấn cung cấp, nhà đất được nhận chuyển nhượng vào năm 2011, tức là sau thời điểm ông Tí và bà Bích kết hôn năm 1995. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất chỉ đứng tên ông Tí.

Căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Đồng thời tại Khoản 3 Điều 33 Luật này cũng quy định:

“Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Do đó, việc giấy chứng nhận chỉ đứng tên ông Tí không phải là căn cứ duy nhất để xác định nhà đất là tài sản riêng của ông. Cần xem xét nguồn tiền được sử dụng để nhận chuyển nhượng nhà đất và các tài liệu, chứng cứ liên quan. Nếu không có căn cứ chứng minh nhà đất được hình thành từ tài sản riêng của ông Tí, thì có cơ sở xác định đây là tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp tài sản được xác định là tài sản chung và không có thỏa thuận khác về chế độ tài sản của vợ chồng, về nguyên tắc phần quyền của mỗi bên được xác định theo quy định của pháp luật. Khi ông Tí qua đời, chỉ phần tài sản thuộc quyền của ông Tí trong khối tài sản chung mới được đưa vào di sản; phần tài sản thuộc quyền của bà Bích không phải là di sản và không bị chia thừa kế.

Ví dụ, nếu nhà đất trị giá 6 tỷ đồng và xác định phần quyền của mỗi vợ chồng là 1/2, thì phần của bà Bích khoảng 3 tỷ đồng không phải là di sản; khoảng 3 tỷ đồng còn lại thuộc phần tài sản của ông Tí và được đưa vào di sản.

b) Sổ tiết kiệm 800 triệu đồng và ô tô trị giá khoảng 500 triệu đồng

Việc sổ tiết kiệm và ô-tô đều đứng tên ông Tí không đồng nghĩa với việc đây là tài sản riêng của ông Tí.

Theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

“Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”. Do đó, cần xác định nguồn tiền hình thành sổ tiết kiệm và nguồn tiền mua ô tô. Nếu các tài sản này được hình thành từ thu nhập hoặc tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì về nguyên tắc, đây là tài sản chung của vợ chồng. Khi đó, chỉ phần quyền của ông Tí trong khối tài sản chung được xác định là di sản. Ngược lại, nếu có căn cứ chứng minh sổ tiết kiệm hoặc ô tô được hình thành từ tài sản riêng của ông Tí, chẳng hạn tài sản có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc được hình thành từ việc sử dụng tài sản riêng, thì toàn bộ tài sản đó được xác định là tài sản riêng và thuộc di sản của ông Tí.

Vì vậy, với các thông tin hiện có, chưa thể kết luận toàn bộ 800 triệu đồng trong sổ tiết kiệm và 500 triệu đồng giá trị chiếc ô tô đều là di sản của ông Tí. Cần tiếp tục xác minh nguồn gốc hình thành các tài sản này.

c) Khoản tiền 01 tỷ đồng cho người bạn vay chưa thu hồi được

Khoản tiền 1 tỷ đồng mà ông Tí cho người khác vay nhưng chưa được hoàn trả về bản chất là quyền tài sản của ông Tí. Cụ thể là quyền yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác; trong đó, khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Do đó, việc khoản tiền này chưa được người vay hoàn trả tại thời điểm ông Tí qua đời không làm mất đi quyền yêu cầu trả nợ và không loại khoản tiền này khỏi phạm vi di sản. Về nguyên tắc, giá trị quyền tài sản được xác định trên cơ sở nghĩa vụ mà người vay còn phải thực hiện đối với ông Tí, bao gồm khoản tiền gốc và các khoản lãi (nếu có).

Sau khi ông Tí qua đời, quyền yêu cầu thanh toán khoản nợ này được chuyển cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Những người thừa kế có quyền yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ; trường hợp người vay không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thì có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định pháp luật. Như vậy, “chưa thu hồi được” không đồng nghĩa với “không phải là di sản”. Việc chưa thu hồi được khoản tiền chỉ liên quan đến khả năng thực hiện quyền thu hồi trên thực tế, chứ không làm mất đi quyền tài sản của người chết.

3. Cách xác định di sản thừa kế trước khi chia

Trước khi phân chia di sản, cần xác định chính xác phạm vi di sản của người chết để lại. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

Việc xác định di sản về cơ bản được thực hiện theo các bước sau:

Thứ nhất, xác định tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung. Đối với tài sản chung, cần xác định phần quyền của người chết trong khối tài sản đó; chỉ phần thuộc quyền của người chết mới được đưa vào di sản. Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng phải căn cứ vào nguồn gốc hình thành tài sản, thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng và các tài liệu, chứng cứ có liên quan.

Thứ hai, xác định các quyền tài sản thuộc về người chết. Di sản không chỉ bao gồm các tài sản hữu hình như nhà đất, tiền, phương tiện mà còn bao gồm các quyền tài sản. Chẳng hạn, khoản tiền người chết cho người khác vay nhưng chưa được hoàn trả vẫn là quyền tài sản của người chết và về nguyên tắc thuộc phạm vi di sản. Việc chưa thu hồi được khoản tiền không làm mất đi quyền yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Thứ ba, xác định các nghĩa vụ tài sản của người chết. Theo Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015: “những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại”. Các nghĩa vụ tài sản và chi phí liên quan đến thừa kế được thực hiện theo thứ tự quy định tại Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, cần rà soát các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản và chi phí liên quan trước khi xác định phần di sản thực tế được chia.

Thứ tư, xác định phần di sản còn lại để phân chia. Sau khi xác định tài sản riêng, phần tài sản của người chết trong tài sản chung, các quyền tài sản và các nghĩa vụ tài sản có liên quan, phần di sản còn lại được xác định để phân chia cho những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Trên đây là nội dung trao đổi dựa trên các thông tin anh Tuấn cung cấp và các quy định pháp luật có liên quan. Việc xác định cụ thể phạm vi và giá trị di sản cần được xem xét trên cơ sở hồ sơ, tài liệu và chứng cứ thực tế của từng vụ việc.

Chuyên mục này có sự hợp tác về chuyên môn của Văn phòng Luật sư Phong & Partners. Đường dây nóng hỗ trợ tư vấn: 0236.3822678 - 0905.102425; website: phong-partners.com