Báo Công An Đà Nẵng

Hà Kỳ Ngộ

Thứ bảy, 20/12/2014 10:33

(Cadn.com.vn) - Hà Kỳ Ngộ sinh ngày 22-12-1921 tại Điện An. Từ tháng 5-1945, Hà Kỳ Ngộ đã tham gia tổ chức công nhân cứu quốc Đề-pô xe lửa Đà Nẵng, chưa tròn 24 tuổi ông được cử làm đại đội trưởng Tự vệ cứu quốc và Thư ký Hội công nhân cứu quốc Hỏa xa Đà Nẵng. Tháng 10-1945 ông trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ 1946, ông làm Bí thư chi bộ Hỏa xa Đà Nẵng, Ủy viên Ban Công vận TP Đà Nẵng. Đại hội Đảng bộ Đà Nẵng tại Bà Bầu - Tam Kỳ, tháng 4-1950, sau khi tách Đà Nẵng ra khỏi tỉnh Quảng Nam, thì ông là một Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Dân vận kiêm Hội trưởng Liên Việt Đà Nẵng. Năm 1951, T.Ư điều ông ra Việt Bắc, ông học tại Học viện Mác-Lênin ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Năm 1953, ông về nước tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ông gắn bó với hoạt động của công nhân, viên chức, tiểu thương, từ những ngày Đà Nẵng  ‘‘Rèn cán chỉnh cơ, cải tiến kỹ thuật’’. Sau tháng 7-1954, ông đưa các con tập kết ra miền Bắc theo Hiệp định Genève. Năm 1959, ông làm Bí thư Đảng ủy Cty tàu cuốc ở Hải Phòng. Vào một ngày xuân đầu năm 1961, ông đưa vợ hiền và năm người con, bốn trai một gái, từ Hải Phòng lên thủ đô Hà Nội, đưa vợ con ra chơi hồ Hoàn Kiếm, ra tiệm ảnh Quốc tế chụp pô ảnh kỷ niệm trước khi tạm biệt gia đình. Rồi ông bí mật rời Hà Nội lên đường vào miền Nam, gửi lại cho các con bài thơ THƯƠNG CON, viết trong đêm 14-2-1961:

“... Ngày mai cha vượt

Trường Sơn

Hôn con hơi sữa còn thơm

dọc rừng...”.

Cuối năm 1961, Hà Kỳ Ngộ cùng một số cán bộ từ miền Bắc về đến đất Quảng Nam- Đà Nẵng, liền được tăng cường cho Đà Nẵng. Tháng 9 -1964, Khu ủy V quyết định tách Đà Nẵng ra khỏi Quảng Đà, trực thuộc Khu ủy, thành lập Thành ủy Đà Nẵng do Hồ Nghinh Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà kiêm Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, Hà Kỳ Ngộ làm Phó Bí thư Thường trực. Ngày 24-3-1966, Hà Kỳ Ngộ, là Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, phụ trách đấu tranh chính trị, bí mật vào nội thành trực tiếp chỉ đạo “Lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng’’, chuyển cuộc đấu tranh ly khai giữa các thế lực, các chính đảng trong nội bộ chính quyền Sài Gòn thành phong trào chống Mỹ - Thiệu - Kỳ, đẩy mạnh các cuộc đấu tranh công khai, thông qua các cuộc biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị... Cuộc đấu tranh đã huy động hàng vạn nhân dân thành phố xuống đường, làm chủ thành phố.‘‘Báo Tiếng Vang’’- Sài Gòn, ngày 5 - 4 - 1966 viết:  ‘‘Thiệu không còn kiểm soát được Đà Nẵng và các tỉnh vùng I chiến thuật nữa’’.

 Tham gia chiến dịch Xuân Mậu Thân-1968, Hà Kỳ Ngộ là Ủy viên Ban Thường vụ Đặc khu ủy Quảng Đà, phụ trách đấu tranh chính trị và dân vận. Chiều ngày 17-1- 1968, nhằm ngày 18 tháng Chạp, còn hơn mười ngày thì đến Tết Mậu Thân, Hà Kỳ Ngộ lại lên đường vào nội thành, trực tiếp chỉ đạo các công việc cần phải làm trước khi giờ G nổ súng.

Nổi dậy trong ngày mồng Một Tết Mậu Thân không thành, mũi quân sự không hoàn thành mục tiêu, địch phản kích quyết liệt, chấp hành lệnh của Hồ Nghinh, tất cả các vị lãnh đạo tìm cách thoát ra khỏi Đà Nẵng. Hôm ấy là 8 giờ sáng, ngày 29-2-1968, nhằm ngày mồng Hai tháng hai Tết Mậu Thân - 1968, ông đang ngồi đọc báo thì lính an ninh quân đội Sài Gòn tại Đà Nẵng ập vào soát nhà. Hà Kỳ Ngộ thấy bốn bề lính, không còn một lối thoát nào. Hỏi giấy tờ, Hà Kỳ Ngộ rút từ trong túi quần ra, đưa cái căn cước mang tên Lê Việt. Trong túi quần của ông có đến ba cái căn cước giả, một cái mang tên Mười Thanh, một cái mang tên Lê Thành. Vì ông đang chuẩn bị ra khỏi thành phố nên lấy bỏ trong túi quần. Ông biết còn một tờ giấy ghi mật mã găm dưới lai quần, sẽ tìm cơ hội thủ tiêu.

Di ảnh đồng chí Hà Kỳ Ngộ.

Viên thiếu tá an ninh Sài Gòn cầm cái căn cước đưa cho ông lập tức cùng 3 tên lính ập vào khống chế đẩy ông ra xe. Khi chúng mở bịt mắt ông ra, ông biết đó là phòng hỏi cung của an ninh Sở 1. Tra hỏi ba ngày, ông ngất xỉu, không lấy được một lời khai, chúng chuyển ông ra nhà giam Thanh Bình. Đây là một trại giam do CIA - Mỹ và an ninh Sài Gòn phối hợp tra tấn khai thác thông tin từ tù nhân, đặt tại bờ biển Thanh Bình, nên gọi là lao Thanh Bình. Lại bị tra hỏi, ông ráng chịu những trận đòn, rất đau, rất mệt và khát. Không khai, nhưng ông biết có người đã khai và có kẻ đã tường trình khá nhiều về ông. Nếu ông nhận một thì chúng sẽ đánh tra để moi ra điều thứ hai, thứ ba. Tại nhà giam Thanh Bình, ông bị đóng 9 cây đinh bảy phân rét rỉ vào xương bánh chè, đóng lên hai bàn chân, vào mắt cá chân, làm gân chân co rút lại, đau thấu trời... Anh em tù thấy ông lết vào phòng thì rơm rớm nước mắt. Đêm nằm trên nền xi măng lạnh trong phòng biệt giam, ông nhẩm ra  LỜI THỀ VỚI ĐẢNG:

“Cắn răng thề với Đảng ta

Trung kiên một chết hơn là

sống dơ”.

Một hôm chúng lôi ông để trên một tấm ván ép, bên cầu tiêu. Hành trang mang vào tù của ông chỉ có một cái xách vải, đựng một bộ áo quần của cô Bảy người Phong Thử gởi vào cho, qua chồng cô là anh Ba Râu, cùng ở tù với ông những ngày mới bị bắt và một bộ bà ba đen của Phạm Văn Ba, người đồng chí bị bắt từ rất sớm. Không khuất phục được, chúng đưa ông vào giam xà lim. Dưới nền xi- măng luôn rịn ướt, trên trần chúng gắn một bóng đèn cao áp chiếu thẳng vào mặt ông mỗi khi nằm xuống. Rồi một đêm nọ, đùng đùng mở cửa, ba bốn tên dẫn ông đi, vào gần sân bay Đà Nẵng. Đến một nơi đã đào sẵn một cái huyệt đứng, dọa sẽ chôn sống nếu không chịu khai. Chúng đẩy ông xuống cái huyệt, lút tới đầu. Một mũi súng chĩa vào mang tai ông, dọa: Mầy có khai không?. Ông chỉ nói một câu như đã nói: Tau không biết chi hết. Chúng xúc đất đổ xuống huyệt, đất cát đầy dần lên đến bụng, đến ngực, lên đến yết hầu ông, thì ngừng đổ đất. Ông nghe bọn chúng rì rầm với nhau, rồi lại kéo ông lên, lấy báng súng phang tới tấp lên đầu.

Tra tấn cực hình, hù dọa, dụ dỗ, không lấy được một lời khai, chúng áp giải ông lên máy bay, đưa vào khám Chí Hòa. Một dãy xà lim ba cái đặt ngoài trời, ngay trước phòng hỏi cung. Mùa hè, ở trong xà lim sắt như ở trong lò. Đến bữa ăn, một tên quân phạm đẩy đĩa cơm vào xà lim. Ông chưa kịp bưng đĩa cơm, thì một tên giữ xà lim bước lại, thò tay kéo đĩa cơm ra, gạt gần hai phần ba đĩa cơm vào thùng rác, rồi đẩy phần còn lại vào! Mỗi lần, chúng đưa vào nửa ca nhựa nước lạnh.

Lần thứ nhất, chúng cho ông ăn đói, uống khát trong suốt năm mươi ngày. Lần thứ hai, rút ngắn, còn ba mươi ngày. Một hôm, giữa trưa, chúng thả ông ra sân ‘‘tắm nắng’’. Trước đó một hôm, có một trận mưa lớn nên để lại trên khoảng đất cạnh sân một vũng nước đọng. Một tên lính cầm cái ca nhựa lại vũng nước múc nửa ca, gạt bỏ lá khô, đưa ca nước cho ông, ông không cầm ca nước, hắn để ca nước bên cạnh ông, bỏ đi. Ông biết hắn muốn hạ nhục ông, vừa làm tăng cơn khát cồn cào trong ông.

An ninh quân đội Sài Gòn không khai thác được gì, chuyển ông qua cho CIA. Ông chỉ  tay vào mặt một người Mỹ: Mày là tên CIA. Những người Việt Nam bu quanh bọn mầy là những tên chiêu hồi, loại người phản bội mà chúng tao khinh bỉ.

Ngày 6-9-1969, chúng đưa ông ra Côn Đảo. Vừa đẩy ông xuống xe, ông nằm lăn xuống đất, không đi tiếp. Một tên bảo ông vào chào cờ, ông nói: Tao chống chào cờ  từ khi bị tống vào tù ở Đà Nẵng, không tin, các ông lên ‘‘chuyên môn’’ hỏi. Sau đó, chúng nói với nhau, đúng là ông này không có tên trong danh sách chào cờ!

Mỗi buổi sáng, mỗi buổi chiều, anh em tù bị giam phòng gần nơi ông, luôn nghe tiếng hát vang vang, giọng trầm hùng: Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước... Nghe là biết tiếng chuông trầm quen thuộc muốn đánh thức, động viên của Hà Kỳ Ngộ vẫn còn. Ông muốn gieo vào mọi người, nhất là anh em tù trẻ, một tinh thần lạc quan, tin tưởng. Ông hát để tin rằng, cuộc chiến đấu của quân giải phóng dù còn nhiều cam go, nhiều hy sinh gian khổ, nhưng đang hừng hực tiến gần đến ngày thắng lợi.

 Những ngày trong địa ngục trần gian ở Lao số 5 cấm cố Côn Đảo, hồi hộp chờ tin thắng trận, người chiến sĩ Hà Kỳ Ngộ với hơn nửa thế kỷ làm một đảng viên kỳ cựu trung kiên, đã mơ:

“...Ngày hạnh phúc đón tàu

từ đất mẹ

Hỡi trời lam rừng tía sóng ca

Tù Chiến sĩ thác hồn thiêng

cho Tổ quốc

Chim én bay làm chủ

biển trời ta.”

Giấc mơ của ông đã thành hiện thực trong buổi sáng tuyệt trần, ngày 1 - 5 - 1975, khi mấy anh em tù chạy vào lao cấm cố số 5 bồng ông ra phòng họp, mời ông cùng dự cuộc họp của những người chỉ huy cuộc nổi dậy, phối hợp với bộ đội cụ Hồ vừa từ đất liền vượt biển khơi, kịp cập bờ, giải phóng nhà lao Côn Đảo.

Hà Kỳ Ngộ từ biệt thế giới này ngày 28 tháng 2 năm 2008. Ngày 9 tháng 10 năm 2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký Quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Hà Kỳ Ngộ.

Hồ Duy Lệ