Đà Nẵng trước bài toán nâng chất dòng vốn FDI
Từ kết quả thu hút 686 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài trong 9 tháng đầu năm 2026, TP Đà Nẵng đang có thêm dư địa để đón dòng vốn quốc tế. Song yêu cầu mới không chỉ là thu hút được bao nhiêu vốn, bao nhiêu dự án, mà quan trọng hơn là dòng vốn đó tạo ra giá trị gì cho thành phố, liên kết thế nào với doanh nghiệp trong nước và đóng góp ra sao vào quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Không chỉ tăng vốn mà phải tăng giá trị
Thời gian qua, Đà Nẵng luôn xác định khu vực đầu tư nước ngoài là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Giai đoạn 2021–2025, TP thu hút hơn 2,07 tỷ USD vốn FDI, lũy kế đến nay có 1.133 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 10,94 tỷ USD. Riêng từ đầu năm đến ngày 20-8-2026, TP thu hút 682 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng 186,6% so với cùng kỳ năm trước. Điều đáng quan tâm là quy mô vốn FDI đang tăng nhanh hơn số lượng dự án. Đây có thể xem là dấu hiệu tích cực về khả năng thu hút những dự án có quy mô lớn hơn.
Tuy nhiên, vốn đăng ký mới chỉ là bước khởi đầu, giá trị thực sự của dòng vốn nằm ở quá trình triển khai dự án, giải ngân, tạo việc làm chất lượng cao, đóng góp ngân sách, mở rộng xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và hình thành các mối liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước... Đây cũng chính là yêu cầu được đặt ra trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8-6-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo định hướng mới, khu vực FDI không chỉ được nhìn nhận như nguồn bổ sung vốn mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ, phương thức quản trị hiện đại, phát triển nhân lực và mở rộng thị trường; đồng thời cần tăng tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, với TP Đà Nẵng, bài toán FDI trong giai đoạn mới nên được đặt theo một cách khác - Không chạy theo số lượng dự án, mà lựa chọn dòng vốn phù hợp với định hướng phát triển của TP.
Từ “thu hút đầu tư” sang “kiến tạo hệ sinh thái đầu tư”
Đà Nẵng không chỉ có lợi thế về vị trí địa kinh tế về cảng biển, sân bay, du lịch và dịch vụ mà còn đang định hướng phát triển mạnh về khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, logistics và các mô hình kinh tế mới,... Do đó, xúc tiến đầu tư cần chuyển từ cách làm “giới thiệu tiềm năng” sang bán một hệ sinh thái hoàn chỉnh cho nhà đầu tư bởi một nhà đầu tư không chỉ quan tâm giá đất hay ưu đãi đầu tư mà họ còn quan tâm có nguồn nhân lực phù hợp hay không, kết nối dữ liệu và hạ tầng số thế nào, điện có ổn định không, logistics có thuận lợi không, thủ tục mất bao lâu, có doanh nghiệp vệ tinh trong nước hay không, có khả năng tuyển dụng chuyên gia và đưa chuyên gia quốc tế đến làm việc hay không,... Đây là bài toán cần có lời giải hợp lý về chi phí - lợi nhuận để nâng cao lợi thế cạnh tranh của TP trong cải thiện môi trường đầu tư.
Đà Nẵng cần xác định rõ danh mục ngành, lĩnh vực và loại hình dự án ưu tiên trong từng giai đoạn, gắn với quy hoạch và lợi thế của từng khu vực. Bên cạnh những lĩnh vực đã có nền tảng như: công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao, logistics, dịch vụ chất lượng cao… cần ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao; dự án nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, công nghệ số, sản xuất xanh, năng lượng sạch và các dịch vụ hỗ trợ chuỗi cung ứng gắn với phát triển Khu thương mại tự do, Khu kinh tế mở Chu Lai theo mô hình thế hệ mới để thu hút các dòng vốn đầu tư có chất lượng cao.
Một trong những mục tiêu quan trọng của chính sách FDI thế hệ mới là tăng tính lan tỏa sang khu vực kinh tế trong nước. Do vậy, TP có thể xây dựng một chương trình kết nối riêng giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp địa phương, thay vì chỉ tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư theo cách truyền thống. Cùng với đó cần lập cơ sở dữ liệu các doanh nghiệp có khả năng cung ứng về linh kiện, bao bì, cơ khí chính xác, điện - điện tử, phần mềm, logistics, dịch vụ kỹ thuật, kiểm định, bảo trì,... để giới thiệu trực tiếp cho các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, cần xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn để nâng cấp tiêu chuẩn quản trị, chất lượng, môi trường và năng lực sản xuất để đủ điều kiện tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế.
Đặc biệt, TP cần lấy cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số làm lợi thế cạnh tranh. Theo đó TP có thể cụ thể hóa yêu cầu này bằng việc xây dựng một đầu mối số về đầu tư, trong đó nhà đầu tư có thể theo dõi toàn bộ vòng đời dự án từ tìm hiểu địa điểm, chuẩn bị hồ sơ, cấp phép, đất đai, xây dựng, môi trường đến triển khai và điều chỉnh dự án. Mỗi dự án cần có mã hồ sơ và tiến độ xử lý trên hệ thống. Những thủ tục liên quan nhiều sở, ngành phải được liên thông thay vì yêu cầu doanh nghiệp đi lại nhiều lần.
Ngoài ra, TP cần xây dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ để giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư. Để thu hút các dòng vốn lớn và các dự án FDI có chất lượng, hạ tầng được xem là một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, đây là những điều kiện trực tiếp tác động đến chi phí, thời gian và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó là mức độ sẵn sàng của mặt bằng khi nhà đầu tư tìm đến. TP cần chủ động chuẩn bị quỹ đất sạch và các điều kiện thiết yếu đối với những dự án thuộc nhóm chiến lược. Bởi trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư, thời gian chuẩn bị dự án cũng là một yếu tố quyết định. Nếu nhà đầu tư phải mất nhiều năm để chờ hoàn thiện những điều kiện cơ bản, lợi thế cạnh tranh về môi trường đầu tư có thể bị suy giảm và cơ hội thu hút dự án có nguy cơ chuyển sang địa phương khác.
Minh Sơn
