Để kinh tế miền núi Đà Nẵng phát triển bền vững

Thứ ba, 22/09/2026 06:30

Sau hợp nhất, Đà Nẵng có 37 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi, khoảng 164.095 người, chiếm 5,5% dân số toàn thành phố, chủ yếu là các dân tộc Cơ Tu, Xơ Đăng, Gié Triêng, Co, Mnông và một số dân tộc khác. Quy mô đó cho thấy, khu vực miền núi phía Tây thành phố không còn là khu vực đứng ngoài dòng chảy phát triển, mà đã trở thành một bộ phận quan trọng trong không gian phát triển mới của Đà Nẵng. Đây cũng là địa bàn có ý nghĩa đặc biệt về quốc phòng - an ninh, bảo vệ rừng đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống.

Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBMTTQVN thành phố Đà Nẵng Nguyễn Đình Vĩnh chủ trì tọa đàm đổi mới, nâng cao hiệu quả tiếp xúc cử tri. Ảnh: Minh Sơn
Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBMTTQVN thành phố Đà Nẵng Nguyễn Đình Vĩnh chủ trì tọa đàm đổi mới, nâng cao hiệu quả tiếp xúc cử tri. Ảnh: Minh Sơn

Thời gian qua, thành phố đã triển khai nhiều chính sách dân tộc, miền núi như: thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi; xây dựng Đề án hỗ trợ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống giai đoạn 2026 - 2030; hỗ trợ thanh niên DTTS khởi nghiệp, đồng thời lồng ghép các chương trình giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ và phát triển rừng,…Tuy nhiên, nền tảng kinh tế ở nhiều xã miền núi vẫn chưa thật sự vững chắc, cần được nhìn nhận rõ nét hơn nhằm tạo chuyển biến căn cơ về sinh kế và giảm nghèo bền vững.

Không thể chỉ dựa vào một vài cây trồng

Tại báo cáo tổng hợp ý kiến cử tri trước kỳ họp thứ 4, HĐND thành phố khóa XI, nhiều kiến nghị từ các địa bàn miền núi tập trung vào những vấn đề trực tiếp liên quan đến sản xuất, sinh kế và đời sống người dân. Cử tri Hà Thanh Tùng, Phó Bí thư Chi bộ thôn Hà Ra, xã Thạnh Mỹ, phản ánh quỹ đất sản xuất hạn chế, người dân chủ yếu trồng keo nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao. Từ thực tế đó, cử tri đề nghị thành phố có chính sách hỗ trợ những mô hình sản xuất phù hợp. Tại xã Bến Giằng, cử tri CRiêng Mộc Miên, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã, đề nghị tiếp tục có cơ chế hỗ trợ phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại giai đoạn 2026 - 2030. Trong khi đó, cử tri Hồ Thị Hoa, Bí thư Chi bộ thôn Thạnh Mỹ 3, kiến nghị phát triển cây gỗ lớn, cây keo đen và những loại cây có giá trị kinh tế cao; đồng thời tiếp tục giao rừng cho người dân quản lý, bảo vệ để tạo sinh kế,… Những kiến nghị trên phản ánh khá rõ nhu cầu từ cơ sở: người dân miền núi không chỉ cần hỗ trợ trước mắt, mà cần một hướng sản xuất có khả năng tạo thu nhập ổn định, lâu dài. Đây cũng là điểm cần thay đổi trong tư duy phát triển. Nếu chính sách giảm nghèo chủ yếu tập trung hỗ trợ đầu vào, người dân có thể thoát nghèo trong một giai đoạn với điều kiện sản xuất bình thường nhưng vẫn đứng trước nguy cơ tái nghèo khi gặp thiên tai, mất mùa hoặc thị trường biến động. Ngược lại, khi sinh kế được xây dựng trên cơ sở lợi thế từng vùng, gắn sản xuất với thị trường và tạo được chuỗi giá trị, người dân sẽ có điều kiện chủ động hơn trong phát triển kinh tế.

Thực tế sản xuất ở nhiều xã miền núi cho thấy nông nghiệp vẫn chủ yếu quy mô nhỏ và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Cây lương thực còn phụ thuộc vào nước trời. Cây keo vẫn là lựa chọn chủ lực ở nhiều nơi bởi phù hợp với điều kiện sản xuất và có thể tạo nguồn thu trong ngắn hạn, nhưng giá trị gia tăng chưa cao. Trồng rừng gỗ lớn là hướng đi có triển vọng song cần thời gian dài mới đến kỳ khai thác. Dược liệu được kỳ vọng mở ra hướng sinh kế mới nhưng cũng chưa thể trở thành lời giải chung cho toàn bộ miền núi. Sâm Ngọc Linh chỉ phù hợp với một số vùng có điều kiện đặc thù như Trà Linh, Trà Tập; việc di thực sang các khu vực khác còn gặp khó khăn về thổ nhưỡng, khí hậu. Với các loại dược liệu khác, vẫn cần tiếp tục nghiên cứu về giống, quy trình sản xuất, thị trường và xây dựng chuỗi giá trị. Vì vậy, thay vì kỳ vọng vào một loại cây trồng hay một mô hình sản xuất duy nhất, cần xây dựng cơ cấu sinh kế đa dạng, phù hợp với điều kiện của từng tiểu vùng. Nơi có điều kiện phát triển kinh tế vườn, trang trại cần có cơ chế hỗ trợ tương ứng; nơi có lợi thế về rừng cần phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững; những địa bàn có tiềm năng về dược liệu, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, sản phẩm OCOP,… cần được hỗ trợ hình thành chuỗi giá trị phù hợp.

Rừng là lợi thế đặc biệt của khu vực miền núi phía Tây. Tuy nhiên, nếu chỉ coi người dân miền núi là lực lượng tham gia bảo vệ rừng thì khó tạo động lực lâu dài. Khi cộng đồng được hưởng lợi hợp pháp và ổn định từ rừng, bảo vệ rừng sẽ trở thành một bộ phận của sinh kế. Do đó, thành phố cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế giao rừng, khoán bảo vệ rừng và mở rộng vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ rừng. Cùng với đó là nghiên cứu các mô hình kinh tế dưới tán rừng phù hợp; phát triển lâm sản ngoài gỗ, dược liệu bản địa và những sản phẩm không làm tổn hại đến hệ sinh thái. Về lâu dài, có thể nghiên cứu khai thác tốt hơn các nguồn lực từ dịch vụ môi trường rừng, phục hồi hệ sinh thái, tín chỉ carbon và các chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu. Điều quan trọng là phải xây dựng được cơ chế để cộng đồng địa phương thực sự được hưởng lợi từ những giá trị này. Đây không chỉ là câu chuyện tạo thêm thu nhập cho người dân, mà còn tạo mối liên kết lợi ích giữa sinh kế và bảo vệ tài nguyên.

Giáo dục nghề nghiệp phải gắn với sinh kế

Giáo dục miền núi cần được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược giảm nghèo và phát triển bền vững của thành phố. Bên cạnh bảo đảm trường lớp, cơ sở vật chất và điều kiện học tập, cần chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng cường kỹ năng số, ngoại ngữ, giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội từng địa bàn. Đặc biệt, giáo dục nghề nghiệp cần được đổi mới theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động, tiềm năng và lợi thế của khu vực miền núi. Các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn, đào tạo tại chỗ, đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất cần được mở rộng hơn nữa. Cùng với đó, cần tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, địa phương và thị trường lao động để hỗ trợ thực tập, tuyển dụng, khởi nghiệp và chuyển đổi nghề. Qua đó người dân, nhất là thanh niên và đồng bào DTTS, có thêm cơ hội tìm việc làm ổn định hoặc lập nghiệp ngay tại quê hương.

Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều khu vực nông thôn còn 4,86%, vùng đồng bào DTTS và miền núi còn khoảng 15% và cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn là mục tiêu lớn, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ và lâu dài. Muốn vậy, chính sách cần xuất phát nhiều hơn từ lợi thế và nhu cầu thực tế của từng địa bàn; hỗ trợ phải đi cùng hướng dẫn kỹ thuật, thị trường, vốn, hạ tầng và liên kết sản xuất. Đặc biệt, cần tạo điều kiện để người dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển, được tham gia và được hưởng lợi từ những giá trị mà đất đai, rừng, văn hóa và tài nguyên bản địa tạo ra.

Minh Sơn