Mở rộng cơ hội điều trị ít xâm lấn cho người bệnh
Thông qua Hội thảo Nội soi Quốc tế Đông Nam Á 2026, Bệnh viện Trung ương (BVTƯ) Huế tăng cường hợp tác chuyên môn, cập nhật các kỹ thuật nội soi hiện đại, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị bệnh lý đường mật, tụy mà không cần phẫu thuật mở trong nhiều trường hợp.
BVTƯ Huế vừa tổ chức Hội thảo Nội soi Quốc tế Đông Nam Á 2026 (Southeast Asian International Endoscopy Symposium), quy tụ các chuyên gia, bác sĩ trong nước và quốc tế đến từ Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Hội thảo tập trung trao đổi kinh nghiệm, cập nhật tiến bộ kỹ thuật trong nội soi tiêu hóa, hướng đến nâng cao năng lực chẩn đoán và điều trị các bệnh lý đường mật, tụy.
Theo GS.TS Phạm Như Hiệp, Giám đốc BVTƯHuế, hội thảo tập trung vào ba nội dung trọng tâm gồm nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) cơ bản và nâng cao, siêu âm nội soi (EUS) trong chẩn đoán và can thiệp, cùng các phiên trình diễn kỹ thuật trực tiếp. Các chuyên gia cũng chia sẻ kinh nghiệm phát triển những kỹ thuật này tại mỗi quốc gia, báo cáo chuyên đề về giảm biến chứng viêm tụy cấp sau can thiệp, phối hợp ERCP và EUS trong chẩn đoán, điều trị tắc nghẽn đường mật - tụy và đánh giá nguy cơ ác tính của tổn thương nang tụy.
Tham dự hội thảo có GS.BS. Thawee Ratanachu-Ek, Cố vấn cao cấp Nội soi tiêu hóa và Phẫu thuật ngoại khoa, Bệnh viện Rajavithi (Thái Lan); ThS.BS Kannikar Laohavichitra, khoa Ngoại, Bệnh viện Rajavithi; BS Ro Kimchhay, khoa Tiêu hóa Gan - Mật, Bệnh viện Calmette (Campuchia); BS Dalouny Sihalath, khoa Tiêu hóa và Gan mật, Bệnh viện Mahosot (Lào). Phía Việt Nam có TS.BS Hồ Đăng Quý Dũng, Chủ tịch Liên chi hội Nội soi Tiêu hóa Việt Nam, Trưởng khoa Nội soi, Bệnh viện Chợ Rẫy, cùng đại diện các bệnh viện và đội ngũ chuyên gia, bác sĩ chuyên ngành nội soi trên cả nước.
ERCP là một trong những kỹ thuật trọng tâm được trao đổi tại hội thảo. Kỹ thuật này sử dụng ống nội soi đưa qua đường miệng xuống tá tràng để tiếp cận đường mật và ống tụy, hỗ trợ chẩn đoán và can thiệp điều trị nhiều bệnh lý. Từ phương pháp chủ yếu phục vụ chẩn đoán trước đây, ERCP hiện được ứng dụng rộng rãi trong lấy sỏi ống mật chủ, xử lý sỏi lớn, đặt stent giải quyết tình trạng tắc mật do khối u, điều trị hẹp đường mật, rò mật sau phẫu thuật và dẫn lưu ống tụy.
Ưu điểm của ERCP là có thể xử lý nhiều tổn thương mà không cần phẫu thuật mở, giúp giảm xâm lấn, rút ngắn thời gian nằm viện và hỗ trợ người bệnh hồi phục nhanh hơn. Kỹ thuật này đặc biệt có ý nghĩa đối với người cao tuổi hoặc người có nhiều bệnh lý nền, không thuận lợi khi thực hiện các cuộc phẫu thuật lớn.
Bên cạnh ERCP, EUS kết hợp nội soi với đầu dò siêu âm gắn ở đầu ống, cho phép quan sát chi tiết các cơ quan nằm gần thành ống tiêu hóa như tụy, đường mật, túi mật, hạch và các lớp thành ống tiêu hóa. Nhờ khả năng cung cấp hình ảnh chi tiết, kỹ thuật này hỗ trợ phát hiện những tổn thương nhỏ, đánh giá khối u tụy, nang tụy và xác định giai đoạn ung thư đường tiêu hóa. EUS còn cho phép chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm để phục vụ chẩn đoán.
Trong điều trị can thiệp, EUS có thể được sử dụng để dẫn lưu nang giả tụy, ổ hoại tử tụy, dẫn lưu đường mật vào dạ dày hoặc tá tràng trong những trường hợp ERCP không thực hiện được, cũng như phong bế đám rối thần kinh nhằm giảm đau cho người bệnh ung thư tụy.
Việc phối hợp ERCP và EUS giúp mở rộng khả năng chẩn đoán, lựa chọn phương án can thiệp phù hợp với từng trường hợp. Tuy nhiên, đây là những kỹ thuật chuyên sâu, đòi hỏi hệ thống trang thiết bị hiện đại cùng đội ngũ bác sĩ được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm thực hành. Vì vậy, cập nhật kiến thức, trao đổi kinh nghiệm và tăng cường hợp tác giữa các trung tâm nội soi có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao chất lượng điều trị, đồng thời góp phần hạn chế các biến chứng liên quan đến can thiệp.
Một điểm nhấn của hội thảo là các phiên trình diễn kỹ thuật trực tiếp tại phòng can thiệp trong chiều 23-10 và ngày 24-10. Các phiên thực hành được truyền hình đến hội trường để đại biểu theo dõi, trao đổi và thảo luận. Qua đó, các bác sĩ có cơ hội tiếp cận quy trình thực hiện kỹ thuật, trao đổi kinh nghiệm xử lý tình huống chuyên môn và kết nối kiến thức lý thuyết với thực tiễn điều trị.
Trong khuôn khổ chương trình, Bệnh viện Trung ương Huế ghi nhận và tri ân những đóng góp của GS.BS Thawee Ratanachu-Ek đối với sự phát triển của ngành nội soi tiêu hóa tại Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Từ năm 2016, giáo sư cùng các đồng nghiệp tại Bệnh viện Rajavithi đã tích cực kết nối đội ngũ bác sĩ nội soi trong khu vực, tổ chức các chương trình đào tạo, hướng dẫn thực hành và thúc đẩy hợp tác chuyên môn. Ông cũng tham gia xây dựng nhiều chương trình hợp tác nội soi tại châu Á, trong đó có Liên minh Nội soi Đông Nam Á.
Nhiều bác sĩ thuộc Trung tâm Nội soi BVTƯHuế đã được GS.BS. Thawee Ratanachu-Ek trực tiếp đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, góp phần phát triển năng lực nội soi can thiệp chuyên sâu tại bệnh viện.
Thông qua Hội thảo Nội soi Quốc tế Đông Nam Á 2026, BVTƯHuế tiếp tục mở rộng kết nối với các chuyên gia, trung tâm nội soi trong khu vực, thúc đẩy hoạt động đào tạo và chuyển giao kỹ thuật. Đây cũng là cơ hội để đội ngũ y bác sĩ cập nhật tiến bộ y học, từng bước nâng cao năng lực chuyên môn, mở rộng khả năng tiếp cận các phương pháp điều trị ít xâm lấn, an toàn và hiệu quả cho người bệnh.
Võ Thế Nghĩa

