Đánh thức giá trị đất đồi ở vùng cao Đà Nẵng
Là cây trồng chủ lực giúp người dân miền núi có nguồn thu sau vài năm canh tác, cây keo đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi để nâng cao giá trị kinh tế và bảo vệ tài nguyên đất rừng. Với những cơ chế hỗ trợ mới, Đà Nẵng từng bước định hình hướng phát triển lâm nghiệp bền vững, chuyển từ khai thác gỗ chu kỳ ngắn sang đầu tư rừng gỗ lớn, đa mục đích.
* Bài 1: Rời lối mòn cây keo, mở hướng phát triển rừng bền vững
Khi cây keo không còn là lựa chọn duy nhất
Dọc tuyến Quốc lộ 40B, từ khu vực Phú Ninh lên Trà My, những triền đồi nối tiếp nhau phần lớn được phủ xanh bằng cây keo. Với ưu điểm dễ trồng, ít tốn công chăm sóc, không đòi hỏi vốn đầu tư quá lớn và có thể thu hoạch sau vài năm, keo từng là lựa chọn phù hợp với điều kiện kinh tế của nhiều hộ dân miền núi, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, phía sau nguồn thu từ những chu kỳ khai thác ngắn là bài toán về hiệu quả kinh tế lâu dài, khả năng phục hồi đất và tổ chức sản xuất lâm nghiệp. Giá gỗ biến động, chi phí vận chuyển phụ thuộc điều kiện giao thông, trong khi việc khai thác sớm khiến người trồng rừng phải liên tục tái đầu tư để duy trì nguồn thu.
Ông Nguyễn Hồng Lai - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Trà Tân cho biết, cây keo có thể khai thác sau khoảng 3-4 năm nên được nhiều hộ dân lựa chọn. Tuy nhiên, diện tích keo lớn, đặc biệt tại các khu vực đồi dốc và dọc những tuyến giao thông cũng đặt ra yêu cầu đánh giá kỹ hơn về phương thức canh tác, khai thác và nguy cơ sạt lở. Thực tế những năm gần đây cho thấy, mưa lớn kéo dài kết hợp địa hình đồi núi dốc khiến công tác phòng, chống thiên tai tại khu vực miền núi Đà Nẵng ngày càng phức tạp. Trong điều kiện đó, việc tổ chức sản xuất trên đất dốc không thể chỉ tính đến thời gian thu hoạch và giá bán, mà cần quan tâm đến khả năng giữ đất, giữ nước và bảo vệ hệ sinh thái.
Ghi nhận thực tế tại một điểm sạt lở cuối năm 2025 bên Quốc lộ 40B thuộc địa phận thôn Ngọc Giác, xã Trà Tân cho thấy: một con suối nhỏ trên sườn núi, 2 bên là những rẫy keo, trong đó rẫy keo phía Tây vừa thu hoạch. Sau những ngày mưa lớn con suối nhỏ bị xé toạt, sạt núi tạo ra khoảnh lở khổng lồ cuốn trôi cả đoạn đường bên dưới, chia cắt Quốc lộ 40B trong nhiều ngày. Thế nhưng chỉ vài ngày sau đó, người dân đã đem những cây keo non lên trồng, thay thế cho lứa cây mới vừa khai thác…
Theo các nhà khoa học, cây keo có vòng đời sinh trưởng khoảng 20 năm. Nếu được trồng phù hợp, duy trì mật độ hợp lý và khai thác đúng tuổi, đúng kỹ thuật, cây keo vẫn có thể góp phần hình thành hệ sinh thái rừng trồng. Nguy cơ cần quan tâm nằm ở tình trạng trồng tập trung, khai thác sớm, chặt trắng trên diện rộng và mở đường công vụ vận chuyển gỗ, làm gia tăng nguy cơ xói mòn khi gặp thời tiết bất lợi. Bởi vậy, chuyển đổi lâm nghiệp không đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò của cây keo. Vấn đề cốt lõi là tổ chức lại sản xuất theo hướng phù hợp với đặc điểm từng vùng đất, lựa chọn cây trồng có giá trị cao hơn và kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng ở những khu vực đáp ứng điều kiện.
Từ rừng gỗ nhỏ đến rừng gỗ lớn
Với khoảng hơn 700.000ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng trồng chiếm khoảng một phần ba và cây keo chiếm tỷ trọng lớn, Đà Nẵng có dư địa đáng kể để nâng cao chất lượng và giá trị kinh tế của rừng. Tuy nhiên, quy mô chuyển đổi lớn cũng đòi hỏi lộ trình phù hợp, tránh gây xáo trộn sinh kế của người dân. Tại xã Trà Tân, ông Nguyễn Hồng Lai cho biết thêm, địa phương dự kiến phối hợp với các đoàn chuyên gia khảo sát thổ nhưỡng, đánh giá điều kiện sản xuất để lựa chọn cây trồng thích hợp. Quế, tre lấy măng và một số loại cây lâu năm được xem là những hướng đi cần nghiên cứu, từng bước thay thế các diện tích keo kém hiệu quả.
Trong những lần làm việc với các địa phương vùng cao, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng đã đề nghị ngành nông nghiệp và môi trường phối hợp với các viện nghiên cứu khảo sát thổ nhưỡng khu vực miền núi của thành phố, nhằm xác định cây trồng, vật nuôi phù hợp. Thành phố cũng tính đến việc tham khảo kinh nghiệm tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế và du lịch tại những địa phương có điều kiện tương đồng. Lãnh đạo thành phố cũng đề nghị quy hoạch vùng sản xuất tập trung. "Nếu thiếu định hướng về cây trồng, kỹ thuật và đầu ra, việc chuyển đổi tự phát có thể khiến người dân tiếp tục rơi vào vòng luẩn quẩn: chạy theo cây trồng có giá cao, mở rộng diện tích rồi đối mặt với rủi ro khi thị trường biến động"- Chủ tịch Nguyễn Mạnh Hùng lưu ý.
Để hiện thực hóa việc chuyển đổi cây keo sang các loại cây trồng bản địa, Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐND ngày 11-2-2026 của HĐND TP Đà Nẵng về chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển lâm nghiệp đã tạo thêm động lực để người dân chuyển sang trồng rừng gỗ lớn. Theo chính sách, thành phố hỗ trợ 100% phần chênh lệch giữa lãi suất vay thương mại và lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước trên dư nợ thực tế tại thời điểm xem xét hỗ trợ. Đối với diện tích trồng rừng sản xuất gỗ lớn bằng các loài cây gỗ, cây đa mục đích thuộc diện chính sách, mức hỗ trợ lên đến 55 triệu đồng/ha/chu kỳ để chi trả chi phí cây giống, phân bón và nhân công trồng, chăm sóc. Chính sách không áp dụng đối với cây keo và bạch đàn. Riêng năm 2026, thành phố bố trí khoảng 13,5 tỷ đồng thực hiện chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất gỗ lớn; phê duyệt hỗ trợ 215 hộ gia đình, cá nhân trồng 227ha rừng gỗ lớn.
Ông Trần Út - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Đà Nẵng cho biết, việc chuyển từ rừng keo gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn, cây bản địa không chỉ hướng đến nâng cao giá trị gỗ mà còn mở ra khả năng phát triển các mô hình kinh tế dưới tán rừng. Người dân có thể bố trí cây dược liệu, cây ngắn ngày hoặc cây đa mục đích phù hợp để tạo thêm nguồn thu trong thời gian chờ rừng trưởng thành.
Theo định hướng của thành phố, đến năm 2030, Đà Nẵng phấn đấu phát triển ít nhất 45.000ha rừng trồng gỗ lớn, trong đó có khoảng 4.600ha rừng gỗ lớn bằng cây bản địa; duy trì ít nhất 30.000ha rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững; đưa hơn 70% sản lượng gỗ khai thác vào chế biến sâu. Tại xã Nam Trà My, ông Trần Văn Mẫn - Chủ tịch UBND xã cho biết, địa phương được cấp hơn 800 triệu đồng để trồng 13ha rừng gỗ lớn, đồng thời đề xuất hỗ trợ người dân trồng quế nhằm nâng độ che phủ rừng và tạo giá trị kinh tế. Địa phương định hướng chuyển dần từ keo sang quế, kết hợp trồng xen sắn theo phương thức lấy ngắn nuôi dài.
TRẦN TÂN (còn nữa)

