Động lực bứt phá từ những nghị quyết mới
Trong bối cảnh thành phố Đà Nẵng bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và khai thác hiệu quả các cơ chế, chính sách, Kỳ họp thứ 2 (kỳ họp chuyên đề) HĐND thành phố khóa XI, nhiệm kỳ 2026–2031 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc thông qua 55 nghị quyết trên nhiều lĩnh vực trọng yếu không chỉ hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, tháo gỡ các điểm nghẽn mà còn mở ra dư địa mới cho tăng trưởng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng sống của người dân và xây dựng nền quản trị đô thị hiện đại.
Mở đường cho động lực phát triển mới
Trên lĩnh vực kinh tế – ngân sách, nhiều nghị quyết mang tính nền tảng đã được ban hành nhằm tạo động lực tăng trưởng trong giai đoạn mới. Các chính sách hỗ trợ phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2026–2030, cơ chế hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và thử nghiệm có kiểm soát các giải pháp công nghệ mới cho thấy định hướng phát triển theo hướng xanh hơn, hiện đại hơn và lấy đổi mới sáng tạo làm động lực. Đáng chú ý, thành phố tiếp tục xác lập bước đi rõ nét trong việc phát triển các ngành công nghệ chiến lược. Các nghị quyết liên quan đến vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo, chính sách phát triển nguồn nhân lực, ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đổi mới công nghệ, bảo hộ tài sản trí tuệ, khai thác hạ tầng số,… đã tạo nên bộ công cụ chính sách quan trọng để thành phố tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương ngày càng gay gắt, việc sớm xây dựng hệ sinh thái công nghệ có chiều sâu không chỉ giúp thành phố nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn góp phần chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa nhiều vào vốn, đất đai sang dựa vào tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Không chỉ tập trung vào các ngành kinh tế mới, các nghị quyết về giá đất, bảng giá đất và cơ chế quản lý tài nguyên đất đai cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo sự minh bạch cho thị trường, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai và tăng khả năng huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Tạo lực đẩy cho hạ tầng, đô thị và an sinh xã hội
Một điểm nổi bật khác của kỳ họp là việc HĐND thành phố dành sự quan tâm lớn cho các vấn đề phát triển đô thị, hạ tầng và chất lượng sống của người dân. Các nghị quyết liên quan đến đầu tư hạ tầng, quản lý đất đai, điều chỉnh ranh giới Khu thương mại tự do Đà Nẵng, bổ sung danh mục dự án thu hồi đất, phê duyệt chủ trương đầu tư dự án luồng Cửa Lở theo phương thức đối tác công tư (PPP)… không chỉ mang ý nghĩa quản lý nhà nước mà còn mở ra không gian phát triển mới cho đô thị và kinh tế biển.
Đặc biệt, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế liên quan đến Khu thương mại tự do Đà Nẵng cho thấy quyết tâm của thành phố trong việc xây dựng cực tăng trưởng mới mang tầm khu vực. Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng, các quyết sách về đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Vành đai phía Tây với cao tốc La Sơn – Túy Loan hay quản lý không gian chăn nuôi, vùng nuôi chim yến cũng phản ánh yêu cầu phát triển đô thị theo hướng đồng bộ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, hạ tầng và quản lý môi trường sống.
Ở lĩnh vực văn hóa – xã hội, nhiều nghị quyết an sinh tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm. Chính sách hỗ trợ giáo dục mầm non tại khu công nghiệp, nơi tập trung đông lao động; hỗ trợ phẫu thuật tim cho trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh; quy định mức chi cho hoạt động thể thao, văn hóa… đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ xã hội. Đối với lĩnh vực dân tộc, các cơ chế hỗ trợ bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển dược liệu, bảo tồn sâm Ngọc Linh, hỗ trợ đào tạo lưu học sinh Lào và giáo viên tiếng Việt tại Lào cho thấy cách tiếp cận phát triển bao trùm, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo đảm công bằng xã hội, phát huy bản sắc văn hóa và mở rộng hợp tác khu vực.
Giá trị của nghị quyết nằm ở khâu thực thi
Tuy nhiên, thực tiễn quản trị cho thấy, một nghị quyết dù được xây dựng công phu đến đâu cũng khó tạo ra hiệu quả nếu chậm đi vào cuộc sống hoặc thiếu cơ chế triển khai đồng bộ. Khoảng cách giữa quyết sách và tổ chức thực hiện từ lâu vẫn là thách thức trong quản lý công. Không ít chính sách khi ban hành nhận được kỳ vọng lớn nhưng quá trình thực hiện lại phát sinh tình trạng chậm hướng dẫn, thiếu nguồn lực, phối hợp chưa hiệu quả hoặc lúng túng trong phân công trách nhiệm.
Đối với thành phố, việc triển khai cùng lúc 55 nghị quyết trên nhiều lĩnh vực đặt ra yêu cầu rất cao về năng lực điều hành, nguồn lực, cơ chế phối hợp liên ngành, cách thức tổ chức thực hiện,... Muốn các nghị quyết nhanh chóng phát huy hiệu quả, điều quan trọng đầu tiên là phải cụ thể hóa thành chương trình hành động rõ ràng. Mỗi sở, ban, ngành, địa phương cần khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai với tinh thần "rõ việc, rõ người, rõ nguồn lực, rõ thời hạn, rõ sản phẩm". Trong đó, trách nhiệm của người đứng đầu cần được đặt ở vị trí trung tâm. Hiệu quả của nghị quyết không thể chỉ đo bằng số lượng văn bản hướng dẫn ban hành, mà phải được phản ánh bằng tiến độ thực hiện, mức độ hoàn thành mục tiêu và những thay đổi cụ thể trong đời sống người dân, hoạt động của doanh nghiệp. Cùng với đó, cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, bởi nhiều nghị quyết có phạm vi tác động rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như: đất đai, đầu tư, công nghệ, hạ tầng, an sinh xã hội. Nếu thiếu sự phối hợp đồng bộ, nguy cơ chồng chéo, kéo dài thời gian xử lý hoặc phát sinh "điểm nghẽn hành chính" là điều khó tránh khỏi.
Đưa nghị quyết vào cuộc sống không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan hành chính mà cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Theo đó, xem xét đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, theo dõi và đánh giá quá trình thực hiện nghị quyết theo thời gian thực, cập nhật công khai mức độ hoàn thành từng nhiệm vụ, từng cơ quan, từng địa phương. Điều này vừa giúp nâng cao tính minh bạch, vừa tạo áp lực tích cực đối với bộ máy thực thi. Bên cạnh đó, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện nghị quyết theo hướng định lượng hơn, gắn với kết quả đầu ra cụ thể. Chẳng hạn, chính sách đổi mới sáng tạo cần được đánh giá bằng số doanh nghiệp công nghệ mới hình thành, số dự án khởi nghiệp được thương mại hóa; chính sách an sinh cần phản ánh qua mức độ cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ của các nhóm yếu thế,...
Vai trò giám sát của HĐND và các Ban của HĐND cũng cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Giám sát không chỉ dừng ở việc xem xét báo cáo định kỳ mà phải đi sâu vào kết quả thực hiện, nhận diện kịp thời khó khăn, vướng mắc để kiến nghị điều chỉnh phù hợp. Song song với đó, cần mở rộng cơ chế giám sát xã hội, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp, các tổ chức nghề nghiệp và chuyên gia tham gia phản biện, góp ý trong quá trình triển khai chính sách.
Kỳ họp thứ 2 HĐND thành phố Đà Nẵng khóa XI không chỉ xử lý những yêu cầu cấp thiết trước mắt mà còn tiếp tục định hình các trụ cột phát triển dài hạn của thành phố. Các nghị quyết được thông qua đều hướng tới mục tiêu khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng mới. Vấn đề đặt ra là phải chuyển hóa nhanh quyết sách thành hành động bằng sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp đồng bộ trong tổ chức thực hiện, trách nhiệm thực thi rõ ràng và cơ chế giám sát hiệu quả nhằm tạo đà cho thành phố tăng tốc phát triển thời gian tới.
Minh Sơn



