Tên của phụ nữ Việt là một "dòng chảy" về giới
Phụ nữ nước Nam xưa đều có tên đệm là “Thị”, nhưng đã có nhiều nữ giới vượt qua “lằn ranh đỏ” đó để mang những cái tên khác hơn. Trong giới văn chương cũng như tham gia chính trường họ đều tài danh, không thua gì nam giới.
Những thi nhân tài danh tên không mang đệm “Thị”
Danh thần Trương Đăng Quế (1793 - 1865) là thầy dạy vua Thiệu Trị, đã thốt lên rằng: “Lần lại xem nước Nam mở cõi trăm ngàn năm nay, trong thời gian đó, thi hào nơi khuê tú, trước có Phạm Lam Anh, sau có Hồ Xuân Hương hai người mà thôi. Ngoài ra, tịch mịch không nghe nói tới”.
Phạm Lam Anh là con gái của cai bạ Quảng Nam Phạm Hữu Kính (đỗ Hương tiến năm 1783). Nhũ danh của bà là Ngọc Khuê (tên Khuê mang lại cảm giác nâng niu, trìu mến). Nhưng cuộc đời của bà lại rất sống động, mang tư tưởng đổi mới như một nam nhi thực thụ. Bà không dùng tên Phạm Ngọc Khuê nhiều mà lại sử dụng tên Lam Anh (ánh ngọc màu lam, một vẻ đẹp có phần ngạo nghễ). Bà đã chủ động bỏ đệm “Thị”. Khi ghi tên trên bia mộ cha mình bà đã ghi Lam Anh bên cạnh em gái Thị Nhân.
Phạm Hữu Kinh rất yêu quý con gái cưng Lam Anh. Bà thông minh, yêu văn chương, làm thơ hay. Cha bà đã mời Nguyễn Dưỡng Hạo, một văn nhân tài hoa tới làm gia sư cho con gái mình, đó là cách ông ngầm chọn con rể để ghép duyên với Lam Anh. Cuối cùng mối tình thầy trò ngăn cách bởi lễ giáo Nho gia bị phá vỡ. Phạm Hữu Kính giả vờ nổi giận lôi đình để bảo vệ gia phong nhà mình, nhưng hôn lễ vẫn được tổ chức, vì ai cũng biết chính ông đã tạo không gian cho “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Cuộc tình vẹn toàn này rất thú vị của đôi văn nhân tài tử, suốt đời vui chơi với văn chương, ngâm vịnh, bàn về người tài hoa đã mất. Dưỡng Hạo không tham dự khoa cử. Hai vợ chồng sống bên nhau tâm đầu ý hợp, thương nhớ đến mức sau khi vợ mất, Dưỡng Hạo cũng mất theo.
“Chiến Cổ Đường thi tập” là tập thơ chung của hai vợ chồng, ghi dấu những ngày thuận hòa của cặp vợ chồng văn chương, sống đẹp trong thi đàn Việt thời trung đại: “Sự nghiệp ngàn thu khôn thỏa chí/ Sóng chưa dìm hết tấm lòng son/Khi hờn cô quạnh trời nào hỏi/Người tỉnh đi rồi, nước trống trơn” (Vịnh Khuất Nguyên của Phạm Lam Anh).
Vì thông minh, yêu văn chương, làm thơ hay nên bà Phạm Lam Anh từng được chúa Nguyễn Phúc Thuần mời dạy trong cung.
Hồ Xuân Hương (1772 - 1822), chúng ta đã quá quen biết bà với ý thơ dí dỏm, sâu cay, mạnh liệt, chân thật với chính mình. Bà khác với đời sống của đôi thi nhân Lam Anh - Dưỡng Hạo, tình duyên của bà “ba chìm bảy nổi” như bánh trôi nước.
Hồ Xuân Hương hiểu phận phụ nữ, nhất là với người như bà đã phải đi làm lẽ, nên bà đã thốt lên một ý chí ngang tàng ở thời đó: “Ví đây đổi phận làm trai được/Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu”. Bà muốn khẳng định một cái tên Hồ Xuân Hương không những bỏ “Thị” mà phải bình đẳng với nam giới trong đời sống xã hội.
Tên vừa là trang sức, vừa là thế mạnh của nữ giới
Theo dòng lịch sử, đến thế kỷ 17, 18 tên của con vua, chúa sẽ có xu hướng là mỹ hóa căn cước bằng cách mà thêm rất nhiều chữ “ngọc”, chữ kim vào đấy cho thành “cành vàng lá ngọc”. Tên của con các chúa Nguyễn rồi con của các vua Lê đều thống nhất là đệm “ngọc”: Ngọc Hân, Ngọc Du, Ngọc Cẩn… bộ chữ Ngọc vào đây để nó “trang sức căn cước” phân biệt với tầng lớp bình dân, thôn dã. Sau này, trong dân gian cũng xuất hiện hiện tượng tên “ngọc” này.
Vào thế kỷ 19 và 20, những thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Huế... phụ nữ bắt đầu sở hữu cái tên hai chữ đẹp đẽ. Ban đầu từ gia đình các nhà tư sản rồi con quan lại, tri thức rồi sau đó là tiếp tục lan vào trong dân gian. Chỉ có những vùng sâu, vùng xa, nông thôn “Họ, Thị, Tên” vẫn tiếp tục được duy trì đến tận 1980 - 1990.
Có một hiện tượng mà chúng ta đã nhìn thấy sự biến đổi rất rõ là nhiều chị em cảm thấy không được tự tin lắm khi có một cái tên đệm là “Thị” và buộc phải đổi tên hoặc là nhiều người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật thì đặt cho một nghệ danh hoàn toàn là chối bỏ cái cũ đi.
Hiện tượng này thì chúng ta cũng không nói đúng hay sai nhưng mà từ góc nhìn nghiên cứu về văn hóa về lịch sử nhà nghiên cứu Trần Quang Đức có nhận định: “Tôi lại nhìn nó từ góc độ tâm lý. Mình chưa thật sự tự tin giá trị nội tại cũng như sự tự trọng, tự tôn mà chưa thật sự được gây dựng một cách vững mạnh thì người ta sẽ xả những uẩn ức của mình vào những cái tên, vào những cái họ hay là vào những thứ bên ngoài.
Ở đây tôi sẽ lấy một ví dụ. Chúng ta đều biết đến Đoàn Thị Điểm. Tên bà chỉ có Đoàn Thị Điểm, có vấn đề gì đâu. Bà đặt ra một tên hiệu: Hồng Hà Nữ sĩ. Và khi người đời nhắc đến bà nói là Hồng Hà Đoàn phu nhân. Hồng Hà đây không phải sông Hồng. Hồng Hà là ráng chiều đỏ, một ráng chiều rất là sặc sỡ thì cái tầm vóc của bà rất là lớn.
Tôi đọc gia phả của dòng họ thì thấy giá trị của bà vượt xa so với thời đại bà sống. Thứ nhất bà là người tự chủ trong hôn nhân. Gần 38, 40 tuổi bà mới lập gia đình. Điểm thứ hai trong thế giới của nam quyền mà bà lại rất giỏi chữ Hán mà lại rất giỏi văn chương. Bà còn mở lớp để dạy Nho học. Có rất nhiều học trò đến học bà thành danh. Bên cạnh đó, bà còn tự bốc thuốc. Tất cả những hành động mạnh mẽ đó, chắc chắn nó không bình thường và đi trước thời đại của bà”.
Ông Đức lý giải thêm rằng: Từ thế kỷ 17, 18 có một cuộc vận động giới rất mạnh mẽ và những người phụ nữ Việt Nam liên tục xuất hiện trên văn đàn, trên chính trường, với một vai trò không thể phủ nhận. Bà Nguyễn Nhược Thị Bích tên tự là Lang Hoàn được cả triều đình gọi là Tiệp Dư phu tử. Bà được vua Tự Đức cất nhắc lên bởi vì quá giỏi văn chương, chữ nghĩa. Bà đích thân dạy dỗ mấy vị vua sau này như vua Đồng Khánh, vua Kiến Phúc. Toàn bộ văn thư của tất cả của Thái hậu, Hoàng hậu đều do một tay Nguyễn Nhược Thị Bích viết ra.
Trong triều Nguyễn không chỉ có Nguyễn Nhược Thị Bích mà còn có một Hoàng Thái hậu Từ Dụ. Bà là vợ của vua Thiệu Trị, thậm chí giỏi đến mức mà vua cho bà ngồi ở đằng sau rèm để cùng nghe chính trị, sau đó là về cùng nhau bàn bạc đến những chuyện chính sự.
Sự xuất hiện của nữ giới trên văn đàn, rồi triều chính theo nhận định của ông Trần Quang Đức: “Không phải chỉ có một, hai, ba cá nhân như vậy liên tục xuất hiện thì chứng tỏ đây là một cuộc vận động, một cuộc cách mạng về giới. Một cuộc vận động rất mạnh mẽ. Và khi đặt trong dòng chảy lịch sử Việt Nam, nữ giới có một vị thế lớn lao, không thể nào phủ nhận”.
Vì sao phụ nữ Việt Nam từ rất sớm đã có vị trí riêng trong câu chuyện họ tên?
Đó là một câu hỏi mà nhà nghiên cứu Trần Quang Đức đã khám phá những câu chuyện hấp dẫn phía sau danh tính người Việt và hơn thế nữa, để cùng suy ngẫm về một câu hỏi lớn: Khi hiểu rõ mình đến từ đâu, chúng ta sẽ bước vào tương lai với nội lực văn hóa như thế nào?
Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức lý giải tại sao phụ nữ lại có “Thị” trước tên mình: “Tôi lại phải nhận thấy một điều là trong suốt dòng chảy của quyền lực cũng như là dòng chảy trong dân gian, vị thế của người phụ nữ chưa bao giờ là lép vế, chưa bao giờ là thấp bé cả. Việt Nam là một nơi mà dung hòa giữa hai nền văn minh lớn: nền văn minh Trung Hoa và nền văn minh Ấn Độ: có mẫu hệ và phụ hệ.
Đàn ông quyền lực, nhưng âm thầm chảy ngầm, phía dưới phụ nữ lại quyền lực hơn. “Lệnh ông không bằng còng bà” nó nằm ở ý niệm như vậy.
Ví dụ, nếu ta lấy tên họ của phụ nữ Trung Hoa ra để làm một sự so sánh. Khi nhắc đến những người phụ nữ Trung Hoa trong rất nhiều văn bản cổ hoặc là trong tiểu thuyết cổ ở Trung Quốc ấy thì ta sẽ đều thấy gọi họ là: Lục thị rồi Trần thị, Vạn thị… Tuyệt đại đa số khuyết tên. Trừ khi là những người phụ nữ rất có cá tính, mạnh mẽ thì họ để lại một vài tên tuổi trong dòng lịch sử của Trung Hoa. Nhưng về cơ bản là phụ nữ Trung Quốc để giấu tên bởi vì nó đến từ văn hóa phụ hệ. Và đặc biệt trong lễ nghi của Nho giáo. Tên của phụ nữ không để lọt ra khỏi cửa, trai, gái chỉ đến khi nào kết hôn thì mới được quyền biết đến tên nhau. Cho nên mới có Lễ vấn danh, lúc đấy mới hỏi đến tên nhau là vì vậy.
Văn hóa Nho giáo ảnh hưởng đến Việt Nam rất muộn màng. Phải mãi đến thời Lê Thánh Tông rồi đến nhà Nguyễn, trong vòng có khoảng 400 năm. Trong khi đó, chúng ta cả một bề dày lịch sử trải dài từ tên Hai Bà Trưng, Bà Trắc và Bà Nhị… không có ai giấu tên. Chính vì không phải giấu tên cho nên tên phụ nữ của Việt Nam suốt từ thế kỷ 6, thế kỷ 7, thế kỷ 8 đã hình thành lên những cái tên như Trần Thị Duyên rồi Phạm Thị Mão… Nếu ở Trung Quốc sẽ là Trần Thị, Phạm Thị, nhưng ở ta không cần phải giấu tên nên nghiễm nhiên là có cái tên để lộ ra và lưu lại danh tính trên văn bia, chuông đồng”.
Ông Đức nhấn mạnh đây là một đặc sắc. Bố cục “Họ, Thị, Tên” nghe bình thường nhưng định hình nên nữ giới Việt Nam. Nghe một cái là ta biết đây là phụ nữ Việt. Theo ông Đức, “nó là một dòng chảy về giới”.
“Một sự vận động về giới Việt Nam khác so với Trung Hoa nhưng mà nó lại vẫn khác so với Champa, Chiêm Thành ở chỗ là mình vẫn sử dụng họ là theo dòng họ phụ hệ của cha. Nhưng mà phụ nữ không phải giấu nhẹm tên đi như phụ nữ Trung Quốc. Từ góc độ như vậy, trải dài theo thời gian, tên phụ nữ Việt có một lịch sử riêng biệt của người Việt”, ông Đức nhấn mạnh.
Theo PLO




