Trật tự vỉa hè và khoảng trống sinh kế của những người yếu thế
Những ngày gần đây, trên nhiều tuyến đường trung tâm thành phố Đà Nẵng, diện mạo đô thị có nhiều chuyển biến rõ nét. Biển hiệu, bảng quảng cáo được các cơ sở kinh doanh chỉnh trang theo quy định; vỉa hè được sắp xếp thông thoáng hơn, trả lại không gian dành cho người đi bộ. Cùng với đó, các xã, phường đồng loạt triển khai các đợt ra quân lập lại trật tự đô thị, tăng cường kiểm tra, xử lý tình trạng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè để kinh doanh, buôn bán trái quy định.
Đây là chủ trương cần thiết nhằm xây dựng hình ảnh một thành phố văn minh, hiện đại, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, mỹ quan đô thị và tạo môi trường thuận lợi cho người dân, du khách khi lưu thông, tham quan. Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực ấy vẫn còn những câu chuyện về sinh kế của một bộ phận người lao động nghèo, đặc biệt là những người tuổi cao, sức khỏe hạn chế hoặc không còn khả năng lao động nặng nhọc, vốn chỉ biết dựa vào một gánh hàng nhỏ hay quầy nước ven đường để mưu sinh. Đây cũng là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình thực hiện chủ trương lập lại trật tự vỉa hè, để mục tiêu xây dựng đô thị văn minh luôn đi cùng với bảo đảm an sinh xã hội và tính nhân văn trong công tác quản lý.
Một trong những trường hợp như vậy là bà Đặng Thị Bảo Phương (sinh năm 1972, trú tại số 15/12 Phạm Văn Thái, thành phố Đà Nẵng). Chia sẻ về hoàn cảnh của mình, bà Phương cho biết hiện bà đang nuôi con nhỏ. Nhiều năm qua, bà mắc bệnh về xương khớp, chân thường xuyên đau nhức nên phải uống thuốc hằng ngày. Sức khỏe giảm sút khiến bà không thể làm các công việc cần nhiều sức lực như: phụ hồ, bốc vác hay công nhân thời vụ,…."Nguồn thu nhập của tôi chỉ trông chờ vào việc bán nước giải khát. Mỗi ngày kiếm được bao nhiêu thì lo bấy nhiêu cho tiền ăn, tiền thuốc và việc học của con", bà Phương chia sẻ. Có thể nói, đối với nhiều người, một quầy nước nhỏ trên vỉa hè có thể chỉ là hình ảnh quen thuộc trong nhịp sống đô thị. Nhưng với những người như bà Phương, đó lại là nguồn sống duy nhất của cả gia đình. Nếu không còn chỗ bán, đồng nghĩa với việc họ gần như không còn thu nhập, trong khi tuổi tác, bệnh tật và hoàn cảnh gia đình khiến việc tìm kiếm công việc mới trở nên vô cùng khó khăn.
Thực tế cho thấy, phần lớn người bán hàng rong hoặc kinh doanh nhỏ trên vỉa hè không phải ai cũng vì muốn vi phạm quy định. Nhiều người đến với nghề vì đây là lựa chọn cuối cùng sau khi đã không còn khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động chính thức. Họ có thể là người lớn tuổi, lao động đơn thân, người khuyết tật nhẹ, người mắc bệnh mãn tính hoặc phụ nữ phải vừa mưu sinh vừa chăm sóc con nhỏ.
Trong nhiều năm qua, việc sử dụng vỉa hè luôn là bài toán khó đối với các đô thị lớn. Nếu buông lỏng quản lý, tình trạng lấn chiếm sẽ gây mất mỹ quan, cản trở người đi bộ và tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông. Ngược lại, nếu xử lý cứng nhắc mà chưa tính đến yếu tố an sinh xã hội thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng nghìn hộ dân có thu nhập thấp. Vì vậy, mục tiêu xây dựng đô thị văn minh không nên chỉ dừng lại ở việc "dọn sạch vỉa hè", mà cần hướng đến xây dựng một đô thị nhân văn, nơi trật tự và an sinh cùng song hành.
Nhiều chuyên gia quy hoạch đô thị cho rằng vỉa hè trước hết phải phục vụ người đi bộ. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia trên thế giới, chính quyền vẫn dành những không gian phù hợp để người dân kinh doanh nhỏ lẻ với những quy định cụ thể về diện tích, thời gian hoạt động, vệ sinh môi trường và phòng cháy chữa cháy. Cách làm này vừa bảo đảm trật tự đô thị, vừa tạo điều kiện để người lao động có cơ hội mưu sinh hợp pháp. Từ thực tế đó, nhiều ý kiến cho rằng thành phố cần nghiên cứu những giải pháp linh hoạt hơn thay vì chỉ xử lý theo hướng cấm hoàn toàn.
Cần lối ra cho sinh kế của những người yếu thế
Trước hết, cần tiến hành khảo sát, phân loại đối tượng buôn bán trên vỉa hè. Không phải mọi trường hợp đều giống nhau. Những hộ kinh doanh có điều kiện, cố tình lấn chiếm để mở rộng mặt bằng cần được xử lý nghiêm. Nhưng với những người thuộc diện khó khăn, sức khỏe hạn chế, thu nhập bấp bênh thì nên có cách tiếp cận phù hợp hơn. Bên cạnh đó, thành phố cần quy hoạch các khu vực được phép kinh doanh nhỏ, ưu tiên bố trí tại những nơi không ảnh hưởng đến giao thông và mỹ quan đô thị. Các điểm bán có thể được thiết kế đồng bộ, quy định rõ kích thước quầy hàng, thời gian hoạt động, tiêu chuẩn vệ sinh và trách nhiệm giữ gìn môi trường. Khi hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, người dân sẽ yên tâm buôn bán, còn cơ quan quản lý cũng thuận lợi trong việc kiểm tra, giám sát.
Đối với những trường hợp đặc biệt như: người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ hoặc những người không còn khả năng lao động nặng nhọc,… thành phố cần có chính sách hỗ trợ sinh kế cụ thể. Sự hỗ trợ không nhất thiết chỉ là trợ cấp bằng tiền mà có thể là tạo điều kiện tiếp cận các vị trí kinh doanh phù hợp, hỗ trợ vay vốn ưu đãi, đào tạo kỹ năng bán hàng, chuyển đổi nghề nghiệp hoặc kết nối với các mô hình kinh doanh cộng đồng,...
Một giải pháp khác là xây dựng cơ sở dữ liệu về các hộ buôn bán nhỏ lẻ có hoàn cảnh khó khăn để việc hỗ trợ được thực hiện đúng đối tượng, tránh tình trạng lợi dụng chính sách. Khi nắm rõ hoàn cảnh từng trường hợp, thành phố có thể đưa ra phương án phù hợp thay vì áp dụng một cách đồng loạt. Bên cạnh vai trò của chính quyền, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp và cộng đồng cũng có thể chung tay thông qua các chương trình hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề nhẹ, giới thiệu việc làm bán thời gian hoặc hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho những hộ kinh doanh yếu thế.
Thực tế cho thấy, việc triển khai các đợt ra quân lập lại trật tự vỉa hè, bảo đảm vệ sinh môi trường và chỉnh trang mỹ quan đô thị trên địa bàn thành phố thời gian qua là chủ trương đúng đắn, hướng đến mục tiêu xây dựng môi trường sống văn minh, an toàn, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và khẳng định hình ảnh một đô thị đáng sống. Tuy vậy, đứng ở hệ quy chiếu động, thành công của mỗi chiến dịch không chỉ được đánh giá qua số lượng trường hợp vi phạm được xử lý hay diện tích vỉa hè được giải tỏa, mà còn cần nhìn ở góc độ an sinh xã hội. Sau mỗi đợt chỉnh trang, những người có hoàn cảnh khó khăn, không còn khả năng lao động nặng nhọc sẽ mưu sinh bằng cách nào, họ có được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống hay không, cũng là những câu hỏi cần được quan tâm trong quá trình thực thi chính sách.
Câu chuyện của bà Đặng Thị Bảo Phương chỉ là một lát cắt nhỏ trong bức tranh chung của những người lao động nghèo nơi đô thị. Đằng sau mỗi chiếc xe nước, mỗi gánh hàng rong hay quầy bán nhỏ là cả một gia đình, những khoản tiền thuốc, tiền học của con và những nỗi lo cơm áo hằng ngày. Khi nhìn nhận đầy đủ những góc khuất ấy, các chính sách quản lý sẽ có thêm yếu tố nhân văn, giúp cân bằng giữa yêu cầu lập lại trật tự đô thị và bảo đảm an sinh xã hội.
Xây dựng một thành phố văn minh là mục tiêu đúng đắn, nhưng một thành phố đáng sống không chỉ có những tuyến phố sạch đẹp, vỉa hè thông thoáng mà còn là nơi những người yếu thế được quan tâm, được tạo điều kiện để tự nuôi sống bản thân bằng sức lao động phù hợp với khả năng của mình. Khi chính sách biết lắng nghe và đồng hành với người dân, quá trình chỉnh trang đô thị sẽ nhận được sự đồng thuận cao hơn, từ đó mang lại hiệu quả bền vững và nhân văn hơn.
Minh Sơn





