Có phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã biển thủ tiền công ty không?
* Chị Mai An – Giám đốc Công ty TNHH X. tại TP Đà Nẵng, hỏi: Công ty tôi có một nhân viên kế toán làm việc được khoảng 2 năm. Trong quá trình làm việc, người này có hành vi biển thủ tiền của Công ty và sau đó bị phát hiện. Khi làm việc với Công ty, nhân viên kế toán này đã viết bản tường trình, thừa nhận hành vi sai phạm, hoàn trả toàn bộ số tiền đã biển thủ và đồng thời nộp đơn xin nghỉ việc. Hiện nay, Công ty đang xem xét việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với nhân viên này. Công ty có phải chi trả trợ cấp thôi việc cho nhân viên này không? Nếu có thì trợ cấp thôi việc được tính như thế nào? Ngoài ra, nếu người lao động không chủ động nộp đơn xin nghỉ việc, Công ty có thể tiến hành xử lý kỷ luật sa thải đối với hành vi biển thủ tiền đã xảy ra hay không?
* Luật sư Phan Thụy Khanh - Phó trưởng Văn phòng Luật sư Phong & Partners, trả lời:
Trong quá trình sử dụng lao động, việc người lao động có hành vi vi phạm liên quan đến tài chính, tài sản của doanh nghiệp không phải là trường hợp hiếm gặp. Người sử dụng lao động có quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật và nội quy của doanh nghiệp. Trong trường hợp chị Mai An, người lao động sau khi thừa nhận sai phạm và hoàn trả số tiền biển thủ, đã chủ động xin nghỉ việc mà không đợi công ty xử lý. Lúc này, việc giải quyết quan hệ lao động không chỉ dừng lại ở hành vi vi phạm đã xảy ra mà còn liên quan đến căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động và các quyền lợi mà người lao động có thể được hưởng khi nghỉ việc. Do đó, từng vấn đề cần được xem xét trên những căn cứ pháp lý khác nhau để xác định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên.
Thứ nhất, nhân viên kế toán nộp đơn xin nghỉ việc thì công ty có trả trợ cấp thôi việc không?
Bộ luật Lao động 2019 quy định:
“Điều 34. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động
3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này;
Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;[…]
Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Không được trợ cấp thôi việc.[…]
Điều 46. Trợ cấp thôi việc
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, […].”
Theo các quy định vừa nêu, việc nhân viên kế toán có hành vi biển thủ tiền không phải là căn cứ để mặc nhiên xác định người lao động mất quyền hưởng trợ cấp thôi việc. Trước hết, cần xác định hợp đồng lao động được chấm dứt theo căn cứ nào. Nếu công ty và nhân viên kế toán thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo khoản 3 Điều 34 hoặc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng quy định tại Điều 35 thì đây là các trường hợp thuộc diện được hưởng trợ cấp thôi việc theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019. Ngược lại, nếu nhân viên kế toán đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì theo khoản 1 Điều 40, người lao động không được hưởng trợ cấp thôi việc.
Thứ hai, nếu nhân viên kế toán thuộc trường hợp được hưởng thì trợ cấp thôi việc được tính như thế nào?
Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 quy định:
“Điều 46. Trợ cấp thôi việc
1. […] người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương […].
2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.”
Theo đó, nếu nhân viên kế toán thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc thì cứ mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Trong đó, thời gian tính trợ cấp không phải toàn bộ thời gian người lao động đã làm việc tại công ty mà phải trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; tiền lương làm căn cứ tính là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi thôi việc.
Do đó, mặc dù nhân viên kế toán đã làm việc khoảng 2 năm nhưng nếu toàn bộ thời gian này đều được tính là thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc có thể bằng 0 và công ty không phát sinh số tiền trợ cấp thôi việc phải chi trả. Trường hợp vẫn còn thời gian được tính hưởng trợ cấp thì số tiền được xác định theo công thức:
Trợ cấp thôi việc = 1/2 × Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc × Tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc.
Thứ ba, trường hợp nhân viên kế toán không chủ động nghỉ việc, công ty có thể xử lý kỷ luật sa thải không ?
Khoản 8 Điều 34, khoản 1 Điều 46 và khoản 1 Điều 125 Bộ luật Lao động 2019 quy định:
“Điều 34. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động
8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải.
Điều 46. Trợ cấp thôi việc
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động […].
Điều 125. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải
Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:
1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;”
Theo các quy định trên, “biển thủ tiền” là cách mô tả hành vi có dấu hiệu thuộc trường hợp trộm cắp, tham ô tài sản của doanh nghiệp. Nếu công ty có đủ căn cứ xác định hành vi của nhân viên kế toán thực tế thuộc hành vi trộm cắp hoặc tham ô tại nơi làm việc theo khoản 1 Điều 125 Bộ luật Lao động 2019 thì công ty có thể áp dụng hình thức kỷ luật sa thải, đồng thời phải bảo đảm việc xử lý được thực hiện đúng quy định pháp luật. Khi đó, hợp đồng lao động chấm dứt theo khoản 8 Điều 34. Đồng thời, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 quy định các trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc, trong đó không có trường hợp thuộc khoản 8 Điều 34. Do đó, nếu nhân viên kế toán bị xử lý kỷ luật sa thải đúng pháp luật thì công ty không phải trả trợ cấp thôi việc.
Như vậy, đối với chế độ trợ cấp thôi việc, nếu nhân viên kế toán chủ động chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật và không bị công ty xử lý kỷ luật sa thải, thì thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc. Số tiền trợ cấp thực tế phụ thuộc vào thời gian làm việc được tính trợ cấp theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019. Trường hợp toàn bộ 2 năm làm việc đã được tính là thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì công ty có thể không phát sinh trợ cấp thôi việc phải trả.
Đối với hành vi biển thủ tiền công ty, nếu có đủ căn cứ xác định hành vi biển thủ thuộc trường hợp trộm cắp, tham ô tại nơi làm việc thì công ty có quyền xử lý kỷ luật sa thải. Trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật sa thải phải được tiến hành theo đúng quy định tại Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP; khi đó, người lao động không được hưởng trợ cấp thôi việc.
Chuyên mục này có sự hợp tác về chuyên môn của Văn phòng Luật sư Phong & Partners. Đường dây nóng hỗ trợ tư vấn: 0236.3822678 - 0905.102425; website: phong-partners.com






