Ký sự Tháng Ba

Thứ hai, 24/03/2014 11:22

* Bài 1: Chớp thời cơ giải phóng Quảng Nam

(Cadn.com.vn) - Tháng Ba, với người dân dọc dải đất miền Trung 39 năm qua trở thành thời điểm đặc biệt: giải phóng. Có sống dưới bão đạn mưa bom, có khắc khoải đau thương trong những tháng ngày đất nước chia cắt, có trải qua sự phân ly tử biệt... mới cảm nhận hết biển trời vui sướng, hạnh phúc vỡ òa của hai miền Nam- Bắc thống nhất, sum họp... của Tháng Ba 39 năm về trước: Một chuỗi quê hương, một chuỗi non sông, triệu triệu đồng bào từ đây trọn vẹn nghĩa độc lập, tự do...

Ký sự dưới đây trở về những năm tháng ấy, với những địa danh, nhân chứng cụ thể...

Tư gia của Thượng tướng Nguyễn Chơn nằm ở P. Hòa Thuận Tây (Q. Hải Châu, Đà Nẵng) những ngày này tấp nập khách. Nhiều người tìm đến vị tướng thao lược mưu trí mà uy danh khiến đối phương phải ngả mũ bái phục, có đủ điều để thỉnh nguyện, song nhiều nhất vẫn là nghe ông dẫn dắt về những trận đánh mang tính quyết định, chuyển biến cục diện chiến tranh...

Về chiến dịch giải phóng Quảng Nam, ông nói: “Tình hình lúc đó diễn biến nhanh lắm, sức mình mạnh hơn địch, nên đã nhanh chóng tấn công giải phóng vùng đất rộng lớn, tạo thế bao vây, giải phóng Đà Nẵng”.



Quân giải phóng tiến vào giải phóng tỉnh lỵ Quảng Tín.

Đầu năm 1975, trên chiến trường Quảng Nam- Đà Nẵng, sau chiến thắng Nông Sơn- Trung Phước và Thượng Đức, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ. Vùng căn cứ miền núi được củng cố và xây dựng vững chắc. Hệ thống đường giao thông đã nối liền với đường chiến lược 559 và vươn dài xuống các huyện Hiệp Đức, Quế Sơn, Hòa Vang, Duy Xuyên...Vùng giải phóng chiếm đến 70% đất đai, các đơn vị chủ lực của Bộ Quốc phòng, Quân khu 5 đứng chân vững vàng trên các địa bàn trọng yếu của tỉnh, bộ đội địa phương tỉnh, huyện được củng cố lớn mạnh.

Đầu tháng 2-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy T.Ư quyết định lấy thị xã Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu cho trận then chốt mở màn chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy. Quân khu 5 đảm nhận chiến dịch Tiên Phước- Tam Kỳ nhằm phối hợp với hoạt động tiến công của chủ lực Bộ Tư lệnh ở Tây Nguyên. Lúc bấy giờ, việc giải phóng quận lỵ Tiên Phước – Phước Lâm là “nút thắt” khó nhất, bởi nơi đây đối phương bố trí phòng thủ dày đặc, có địa thế khó tấn công và thực tế quân ta đã không ít lần tổ chức đánh chiếm nhưng đều bất thành.

“Ta chọn Tiên Phước- Phước Lâm để mở màn chiến dịch vì đây là căn cứ địch cắm sâu vào vùng ta. Lúc đó Quân khu 5 tổ chức họp để lên kế hoạch đánh, anh Võ Chí Công và Chu Huy Mân giao nhiệm vụ này cho Sư đoàn 2. Nhiều ý kiến nói đánh căn cứ địch ở Tiên Phước- Phước Lâm khó, phải cần thời gian 7 ngày. Nhưng tôi nói chỉ cần 24 tiếng đồng hồ là đánh xong. Nhiều người nói tôi chủ quan. Đến giờ ăn cơm trưa, anh Chu Huy Mân gọi ra hỏi nhỏ “nói có chắc không”,  tôi trả lời “chắc thắng”...”, tướng Chơn nhớ lại

Nguyễn Chơn đã dành thời gian nghiên cứu địa hình, bố trí lực lượng, nghiên cứu thực địa suốt 7 ngày. Và rồi, khuya ngày 10-3-1975, Sư đoàn 2 bộ binh, Tiểu đoàn 10 đặc công cùng với bộ đội địa phương được Trung đoàn pháo binh 572, 368 và Trung đoàn cao xạ 573 yểm trợ, lần lượt đánh chiếm các mục tiêu Suối Đá, cao điểm 211, chi khu quận lỵ Tiên Phước, bao vây chi khu quận lỵ Hậu Đức (Phước Lâm). Và chưa đến 24 tiếng đồng hồ sau, quân ta đã làm chủ Tiên Phước – Phước Lâm. Sư đoàn 2 bộ binh đã đánh tan rã toàn bộ quân địch và bố trí lại đội hình, hình thành tuyến phòng thủ sẵn sàng chống phản kích.

Thượng tướng Nguyễn Chơn ôn lại chuyện xưa với người lính của mình
là ông Nguyễn Đình Ngật.

Trận đánh căn cứ Tiên Phước – Phước Lâm đã tạo thế bao vây tỉnh lỵ Quảng Tín vì thế mà địch hoảng hốt điều liên đoàn biệt động số 12 và trung đoàn bộ binh số 5 sư 2 ngụy ra phản kích hòng ngăn chặn ta tiến công về đồng bằng. Máy bay ném bom dày đặc dọc đường từ Tiên Phước về Cây Sanh. Rồi địch dùng pháo hạng nặng dọn đường và triển khai lực lượng “quyết tử” với ta, nhưng tất cả đã bị sư đoàn 2 và lữ đoàn 52 của ta chặn đánh ở Kỳ Ngọc, Kỳ Long. Kế hoạch của địch thất bại, việc giải phóng tỉnh lỵ Quảng Tín chỉ còn là thời gian.

Thời gian này, các cánh quân của ta phát triển về hướng Nam, áp sát thị xã Tam Kỳ. Vào đêm 21 rạng 22-3, các lực lượng của ta nổ súng tấn công toàn bộ các mục tiêu của địch ở vùng đông thị xã, phát trận địa pháo Nông Thị (Núi Cấm), đánh sập cầu Kỳ Phú, bao vây, truy bức, giải phóng hoàn toàn 3 xã vùng đông Tam Kỳ, khép chặt tỉnh lỵ Quảng Tín trong vòng vây của ta. Lúc này lực lượng đối phương ở tỉnh lỵ Quảng Tín còn rất mạnh, nhưng trước thắng lợi liên tiếp của quân ta khiến chúng mất tinh thần. Tỉnh trưởng và tiểu khu trưởng Quảng Tín phải lên máy bay bỏ chạy về Đà Nẵng.

Đến chiều ngày 23-3, toàn bộ các cơ quan đầu não của địch ở Quảng Tín đều tê liệt. Địch ở tỉnh lỵ Quảng Tín như chim vỡ tổ, nhanh chóng tan rã. Rồi đúng 10 giờ ngày 24-3-1975, tỉnh lỵ Quảng Tín đã được giải phóng. Nhớ lại giờ phút này, tướng Nguyễn Chơn kể câu chuyện vui: “Khi bao vây tỉnh lỵ Quảng Tín, mình ở trên điểm cao 162 (thuộc huyện Phú Ninh bây giờ) quan sát thì thấy địch tan rã nhanh, quân tướng hoảng loạn. Nhưng lúc này lại mất liên lạc với sở chỉ huy tiền phương nên không thể xin ý kiến tấn công, nên phải hội ý với Ban thường vụ. Tuy nhiên mình thông báo với Thường vụ sáng sớm ngày 24-3 nhưng đến 3 giờ chiều mới có phản hồi đồng ý đánh tỉnh lỵ Quảng Tín. Trong khi đó 10 giờ sáng 24-3 thì ta đã giải phóng Tam Kỳ rồi, đồng thời lúc đó cũng giải phóng cả Quảng Nam”.

   Quảng Nam và tiếp đó là Huế được giải phóng, đã tạo ra thế gọng kìm bao vây Đà Nẵng. Lúc này, các hãng truyền thông thế giới đều nói rằng “sẽ có một trận quyết chiến tại Đà Nẵng” nhưng sự thật thì khác hẳn.

Hoàng Anh
(còn nữa)