Máy làm đá không cần... điện

Chủ nhật, 25/10/2009 00:00

(Cadn.com.vn) - Để sản xuất một tấn nước đá mất 160kW điện, cộng các phụ phí khác tổng  phí hơn 1 triệu đồng. Thế nhưng với chiếc máy của thầy Võ Chí Chính – Đại học Bách khoa Đà Nẵng, 1 tấn nước đá chi phí chỉ 10 ngàn đồng. Đặc biệt hơn, chiếc máy này có thể dùng cho đồng bào dân tộc ít người ở vùng núi hẻo lánh hoặc các khu du lịch vùng cao không có điện.

Thầy Chính nói 10 ngàn đồng ở đây là chi phí để khấu hao độ ăn mòn của máy đối với việc sản xuất 1 tấn nước đá. Hiện nay, để sản xuất nước đá phục vụ sinh hoạt, ướp thực phẩm, ướp hải sản cho tàu đánh bắt xa bờ... phải dùng điện năng. Thế nhưng, chiếc máy của thầy Chính không cần dùng điện năng, mà tận dụng sức đẩy của thác nước có ngay từ trong tự nhiên. Nước ta 3/4 diện tích đồi núi, kéo theo đó là hàng ngàn thác nước lớn, nhỏ.

Nếu tận dụng chúng vào việc sản xuất nước đá bằng chiếc máy của thầy, sẽ tiết kiệm hàng ngàn ki-lô-watt điện mỗi năm. Thầy Chính thí dụ, khu vực đèo Hải Vân có rất nhiều khe nước chảy từ trên núi xuống biển. Người dân ở Lăng Cô thường tận dụng nguồn nước này để rửa xe. Bây giờ tận dụng những khe nước này, đặt cái máy của thầy ngay dưới chân đèo để sản xuất nước đá, phục vụ cho ngư dân bảo quản hải sản khi đánh bắt xa bờ thì sẽ rất hiệu quả.

Hoặc như khu du lịch Bà Nà, để bảo quản thực phẩm phục vụ nhu cầu cho du khách sẽ rất tốn điện năng, chỉ cần lắp 1 cái máy của thầy với giá hơn 10 triệu đồng có thể bảo quản thực phẩm cả chục ngày mà không tốn một đồng phí. Ngoài ra tại các khu du lịch khác ở trên núi, không có điện, dùng chiếc máy của thầy có thể sản xuất nước đá để phục vụ du khách, đồng thời bảo quản thực phẩm từ biển đưa lên cũng rất hiệu quả mà không tốn một đồng phí. Vậy thực ra chiếc máy này được làm thế nào lại có hiệu quả tốt như vậy?

Theo thầy Chính, nguyên lý rất đơn giản, là tận dụng sức nước từ thác, khe núi làm quay mô-tơ, sản xuất nước đá, khí lạnh trực tiếp. Lâu nay, đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên cũng đã dùng sức nước từ các thác để đẩy nước tưới tiêu cho cà-phê, cao su, hồ tiêu... Rồi việc dùng sức nước để sản xuất điện quy mô nhỏ cũng được bà con áp dụng.

Thế nhưng việc dùng sức nước để chạy máy sản xuất nước đá trực tiếp thì ở Việt Nam chưa ai nghĩ và làm. Đặc biệt ở vùng núi, miền cao, có nhiều thác nước lớn, thuận lợi cho việc sản xuất nước đá. Lâu nay, ở khu vực này, bà con rất hiếm có cơ hội dùng nước đá, bởi giá cả vận chuyển từ đồng bằng lên rất đắt đỏ. Nay với chiếc máy chỉ hơn 10 triệu đồng của thầy, cả thôn, bản, xã có thể chung tiền vào mua và sản xuất nước đá đủ dùng cho cả xã.

 Thầy Chính bên chiếc máy vận hành thử ở Lăng Cô (Huế).

Việc nghiên cứu, chế tạo chiếc máy này là đề tài trọng điểm cấp Bộ. Thầy Chính vừa bảo vệ thành công ở cơ sở, hiện đang chờ bảo vệ cấp Bộ. Theo đánh giá của Hội đồng bảo vệ cơ sở, chiếc máy này là một sáng tạo độc đáo, có ý nghĩa vô cùng thiết thực với cuộc sống. Trong tình hình thiếu hụt năng lượng trên toàn thế giới hiện nay, việc tiết kiệm năng lượng đang là vấn đề quan trọng với mỗi quốc gia, thì sáng tạo của thầy Chính càng trở nên giá trị.

Ông Trần Đổng – Phó Giám đốc Cty Cung ứng và Phát triển kỹ thuật thủy sản Seateco cho biết, ưu điểm nổi bật của chiếc máy này là chi phí rẻ, lắp đặt đơn giản, guồng nước có thể làm bằng kim loại, gỗ, tre nứa... nên rất dễ sản xuất. Với các khu du lịch vùng cao, ven suối, việc lắp đặt  máy này ngoài hiệu quả thiết thực như chạy máy điều hòa, bảo quản thực phẩm thì guồng máy còn tạo nên cảnh trí đẹp, như một sản phẩm du lịch phục vụ du khách.

Ông Phạm Đức Nam – Trưởng phòng kỹ thuật Cty Cơ điện lạnh SeaRee Đà Nẵng thì cho rằng, với nguyên lý đơn giản, việc sản xuất hàng loạt máy này là rất triển vọng. Thiết bị chính của máy gồm một guồng nước nhận năng lượng, quay và dẫn động một máy nén lạnh hoạt động. Máy nén lạnh hoạt động đẩy môi chất lên thiết bị ngưng tụ. Ở đó, môi chất trao đổi nhiệt với nước và được ngưng tụ lại thành lỏng. Môi chất lỏng qua tiết lưu được đưa vào dàn lạnh bốc hơi.

Khi môi chất bốc hơi nó sẽ làm lạnh nước hoặc thực phẩm dùng bảo quản. Với nguyên lý như vậy, ông Nam cho rằng, cái khó nhất chính là việc thiết kế hệ số chuyền đảm bảo để tránh tốc độ quay không đảm bảo, không sinh lạnh. Tiếp đến là việc sử dụng hệ thống mô chất trong hệ thống làm lạnh. Hai vấn đề mấu chốt đó đã được thầy Chính giải quyết triệt để và nó đã tạo nên thành công của máy.

Hải Hậu