Mộng vàng treo duyên

Thứ năm, 27/08/2009 00:00

(Cadn.com.vn) - Sự xuất hiện của hai cô gái trẻ, đẹp, ăn mặc chải chuốt ở tòa án khiến tôi chợt nghĩ: Ở đây chỉ toàn giải quyết kiện tụng, tranh chấp và xét xử các loại tội phạm, mà trông họ thì chẳng có vẻ gì liên quan đến những việc “bụi bặm” ấy, vậy thì họ đến làm gì nhỉ? Như đọc được thắc mắc của tôi, người cảnh sát làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa giải thích: Mấy cô ấy là vợ Việt kiều hoặc có chồng là người nước ngoài, đến để giải quyết ly hôn đấy. Tháng nào mà ở tòa án chẳng có vài vụ như vậy, chị nán lại xem thì sẽ biết. Và tôi đã quyết định dự khán phiên tòa ngày 22-7-2009 của TAND TP Đà Nẵng. 

Vụ ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ph. (1983, trú tổ 16, P. An Hải Tây, Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng) với chồng là anh Nguyễn Aaron (1977, trú 7450-Pear Ridge Dr#7308 Dallas TX 75287 USA) được tóm tắt như sau: Chị Ph. quen biết anh Nguyễn Aaron từ tháng 3-2003 qua giới thiệu của một người bạn của chị gái đang định cư tại Mỹ. Qua vài lần điện thoại, trao đổi tình cảm, anh Nguyễn Aaron ngỏ lời cầu hôn với Ph. và được chị chấp nhận. Ngày 29-10-2003, Nguyễn Aaron về Việt Nam, được sự chấp thuận của hai bên gia đình, 2 người tiến đến hôn nhân. Đám cưới được tổ chức tại nhà hàng Phì Lũ (đường Nguyễn Chí Thanh) và có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp TP Đà Nẵng.

Trong thời gian về Việt Nam, chàng rể ngoại kiều ở tại nhà vợ khoảng 10 ngày, sau đó hai vợ chồng bay vào TPHCM ở với mẹ chồng cho đến ngày 30-11-2003 thì anh Nguyễn Aaron quay về Mỹ. Sau đó anh Nguyễn Aaron làm thủ tục để bảo lãnh vợ sang Mỹ đoàn tụ. Ngày 10-8-2004, chị Ph. nhận được giấy báo mời phỏng vấn của Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại Việt Nam. Trong quá trình phỏng vấn, Tổng Lãnh sự yêu cầu chị phải cung cấp giấy khai sinh của bố chồng để đối chiếu. Chị Ph. đã điện sang Mỹ cho chồng và anh Nguyễn gửi giấy này từ Mỹ về. Sau khi chị Ph. bổ sung giấy khai sinh của bố chồng vào hồ sơ, nhưng Tổng Lãnh sự hẹn sẽ xem xét lại vì họ nghi ngờ hai người là bà con với nhau, muốn di cư bất hợp pháp nên tổ chức hôn nhân giả vì cả cha mẹ chồng, cha mẹ ruột của chị Ph. đều mang cùng họ Nguyễn.

Những phiên tòa xét xử ly hôn có yếu tố nước ngoài thường chỉ có một bên là nguyên đơn (Trong ảnh: một phiên xét xử ly hôn với người nước ngoài của TAND TP Đà Nẵng). Ảnh: P.V 

Việc bảo lãnh gặp trục trặc, năm 2005 anh Nguyễn Aaron về Việt Nam thăm vợ và ở lại gần 1 tháng thì quay về  Mỹ. Sau đó, hai người vẫn liên lạc bình thường với nhau, nhưng đến khoảng năm 2007, chị Ph. nhận thấy tình cảm của chồng dành cho mình không còn như trước nữa, thời gian liên lạc thưa dần rồi ngưng hẳn. Khi chị điện thoại cho mẹ chồng và anh chị em của chồng thì họ đều lảng tránh. Tháng 8-2008, chị Ph. điện thoại cho chồng, nhưng anh Nguyễn Aaron đã đổi số máy, chị Ph. gửi thư đề cập đến việc ly hôn cũng không thấy trả lời. Mất 6 năm thanh xuân cho một cuộc hôn nhân không hy vọng, chị Ph. quyết định xin ly hôn để tự giải phóng cho mình. Trong thời gian giải quyết vụ án, TAND TP Đà Nẵng đã gửi thông báo thụ lý vụ án và bản tự khai của chị Ph. cho anh Nguyễn Aaron để anh ta có ý kiến, nhưng cho đến ngày mở phiên tòa 22-7-2009, anh này vẫn không có văn bản phản hồi, vì vậy HĐXX quyết định xử vắng mặt.

Cuộc hôn nhân của chị Lê Thị Tố T. (1986, trú đường Bế Văn Đàn, Q. Thanh Khê, TPĐN) với ông Shwetzer William Seikichi (1964, công dân Mỹ, trú 1308 10th St Saint Cloud Florida 34769 USA) cũng có một kết cục tương tự. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn cũng như trình bày của chị T. tại phiên tòa thì chị và ông Shwetzer William Seikichi qua thời gian tìm hiểu đã quyết định tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 21-5-2006 tại UBND TP Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống khoảng 3 tháng tại nhà chị, sau đó thì ông Shwetzer trở về Mỹ. Thời gian đầu, vợ chồng thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại và ông Shwetzer nói với chị T. là đang xúc tiến làm thủ tục bảo lãnh vợ sang Mỹ định cư, nhưng từ bấy đến nay đã hơn 3 năm, lời hứa ấy vẫn chỉ là... hứa. Không cam chịu để cuộc đời mình phiêu diêu với cuộc hôn nhân “treo” không biết đến bao giờ, trong khi ông Shwetzer lại thường xuyên đi công tác ở nhiều quốc gia (theo chị T. cho biết thì ông Shwetzer hiện công tác tại Doi Saket, Chiềng Mai, Thái Lan), chị đã đơn phương xin ly hôn.

Xét thấy cả hai cuộc hôn nhân của chị Ph. và T. với những người chồng ở bên kia bờ Thái Bình Dương đều không có hạnh phúc thực sự, thời gian chung sống giữa họ rất ngắn, tình cảm vợ chồng không có, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau và hiện không còn liên lạc với nhau, tòa án đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của các chị và giải quyết cho họ được ly hôn với những ông chồng “kiều”, chồng  “tây” theo quy định của pháp luật. Lúc nghe vị chủ tọa phiên tòa tuyên xử, tôi cố ý nhìn họ nhưng chẳng hề bắt gặp chút cảm xúc nào của sự chia ly, cứ như thể ly hôn là việc đơn giản như bao việc khác thường ngày.

Ngoài đường, những đoàn xe đám cưới vẫn nối đuôi nhau diễu qua. Tôi biết có nhiều cô dâu đang tràn trề hạnh phúc và tự hào vì lấy được chồng “kiều”, chồng “ngoại”, được là nhân vật chính trong những đám cưới tiền “đô” rình rang. Mong rằng không có ai trong số họ vài ba năm nữa lại phải đứng ở vị trí của chị Ph. và T. như hôm nay.

Nh.Hoàng