“Những người lính thợ ” - câu chuyện không thể bị lãng quên

Thứ năm, 24/06/2010 00:00

(Cadn.com.vn) - “Những người lính thợ” (Travailleurs Indochinois requis) là tập sách song ngữ Pháp - Việt của tác giả Liêm Khê Luguern. Phần ảnh của cố họa sĩ Từ Duy. Bản dịch của Phan Thị Hồng Hạnh. Sách dày 256 trang, do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành vào đầu tháng 6-2010.

“Những người lính thợ” là tập sách viết về những người Việt Nam bị chế độ bảo hộ trưng dụng làm lính thợ trên đất Pháp. Tập sách nhằm để người Việt thế hệ hôm nay biết những đồng bào ra đi trong các cuộc hành trình ấy đã bị rơi vào hoàn cảnh như thế nào. Đồng thời, để lịch sử nước Pháp không quên những người lính thợ này, không quên những đau khổ và những bất công mà họ đã chịu đựng, ngay cả giờ đây họ đã không nhận được một khoản hưu bổng nào của chính phủ Pháp trong những năm mà họ đã làm việc trên đất Pháp.

Vào những năm 1930 – 1940, thời điểm bị nhà nước Pháp trưng dụng, họ ở vào tuổi 19 -  20. Ngạn, Thịnh, Vy, Mười Oanh, Cân, Định, Thiêm, Duyệt, Liên, Quy, San, Tề, Quý, Giao, Tiên, Nam, Khâu là những người lính thợ không chuyên (gọi tắt là ONS - ouvier non spécialisé) của xứ Đông Dương bị tập trung làm nhân công để hỗ trợ cho nền kinh tế Pháp trong thời chiến.

Những người lính thợ phần lớn được tuyển chọn từ các tỉnh nghèo khó và đông dân nhất của các tỉnh miền Trung, miền Bắc của Việt Nam. Một phần trong số họ, được hồi hương vào khoảng thời gian từ năm 1940 - 1954, đến nay còn độ gần vài chục người đều ở tuổi “gần đất xa trời”.

Khi tác giả Liêm Khê Luguern tổ chức cuộc điều tra, họ đã đứng ra làm chứng để được lên tiếng trước khi vĩnh viễn đi xa. Những mẩu ký ức của họ không đồng đều vì họ đã già nua và yếu ốm, do đó nếu không có tập sách nhỏ này ra đời thì sẽ không có một dấu tích của một văn bản nào viết về quá khứ đó.

Năm 1990, theo Hiệp hội hỗ trợ những người lính thợ và lính chiến tại Pháp (năm 1990), ước lượng danh sách những người lính thợ còn sống tại Việt Nam có khoảng 500 - 600 người; nhưng theo phát ngôn viên của Hội tại Việt Nam thì chỉ có khoảng 227 người. Hiệp hội cho biết, phần lớn họ không nhận được đồng nào khi trở về Đông Dương.

Năm 1997, do trở ngại về pháp lý, Hiệp hội gửi thỉnh cầu đến Tổng thống Chirac (thay vì đòi hỏi quyền được trợ cấp), bằng một đền bù dưới hình thức tặng vật như một dấu hiệu tượng trưng cho số cựu lính thợ sống sót trong thời gian đó. Nhưng thỉnh cầu đó không được đáp lại. Đến nay, Hội đã ngừng hoạt động, do những người cáng đáng công việc qua đời. Họ chỉ còn lại một nhóm nhỏ nhoi các cụ già và vẫn luôn chờ đợi một cử chỉ biết ơn từ phía nước Pháp.

Có thể dẫn điển một số lời tự sự của các nhân chứng còn sống: Ông Chu Văn Ngạn (sinh năm 1915 tại Diễn Châu, Nghệ An): “Kỷ niệm đẹp nhất mà tôi còn giữ lại trong những ngày sống trên đất Pháp là lúc chúng tôi đón tiếp cụ Hồ Chí Minh đến Pháp để dự hội nghị Fontainbleau; và kỷ niệm buồn nhất là giai đoạn người ta cấm chúng tôi kéo cờ Việt Nam trong các trại lính thợ”.

 Bìa sách "Những người lính thợ" .

Ông Nguyễn Liên (sinh năm 1918 tại Phù Mỹ, Bình Định): “Trong hồ sơ cá nhân của chúng tôi, bắt buộc chúng tôi phải ghi chú những năm mà chúng tôi đã sống ở Pháp. Nhưng điều đó chẳng dùng vào việc gì. Hình như nước Pháp cố tình quên chúng tôi. Và chúng tôi chỉ có thể nhận lãnh số phận của mình... Tôi tiếc những gì mà tôi đã làm cho nước Pháp”. 

Ông Nguyễn Văn Tê (sinh năm 1911 tại Hà Nam): “Tôi chưa bao giờ nhận lãnh được tiền bồi thường hoặc hưu trí từ ngày tôi trở về. Ngày ấy đã xa quá rồi. Tôi chẳng muốn nghĩ gì đến thời đó nữa, điều đó chỉ làm tôi thêm đau lòng”. Ông Lê Hữu Đinh (sinh năm 1907 tại Thanh Hóa): “10  năm sống ở Pháp là cả một phí phạm lớn: khi trở về, chúng tôi phải làm lại tất cả. Vì vậy nên tôi ao ước chính phủ Pháp nghiên cứu về tình trạng của chúng tôi để bồi thường cho chúng tôi. Họ không nên quên rằng chúng tôi đã bị bắt buộc phải ra đi và tất cả tài sản của chúng tôi đều bị tịch thu”.

Tác giả Liêm Khê cho biết: “Là người lấy lời chứng, tuy nói và đọc được tiếng Việt, nhưng tôi đã phải viết kết quả công việc của mình ra tiếng Pháp. Sau đó lời chứng được dịch tiếp ra tiếng Việt. Hơn nữa, mục đích ban đầu là để xuất bản sách ở Pháp (do đó có bản gốc bằng tiếng Pháp), nhưng tôi đã không tìm  được một nhà xuất bản nào ở đây chấp nhận xuất bản một tác phẩm song ngữ”.

Về phía Nhà xuất bản Đà Nẵng, Ban Biên tập nêu rõ: “Xuất bản những mẩu chuyện của họ bằng tiếng Việt và tiếng Pháp trong cùng một tác phẩm, điều đó muốn nói lên ý chí của chúng tôi trong việc thiết lập một chiếc cầu nối giữa hai quốc gia mà từ lâu đã có cùng một giai đoạn lịch sử ràng buộc lẫn nhau: lịch sử những người thợ này thuộc về lịch sử của nước Việt Nam cũng như đã thuộc về lịch sử nước Pháp.

Vượt trên những tàn bạo của đẳng cấp thực dân và vượt trên những đau khổ dạn dày của những người lính thợ, ở một quốc gia đang trong thời chiến, những nhân chứng cũng cho thấy được các cuộc gặp gỡ giữa những người nông dân Việt Nam và giới thợ thuyền Pháp, có nhiều gia đình Pháp đã mở rộng cửa nhà để mời đón họ”.

Trần Trung Sáng