Phận đời thái giám (2)

Thứ ba, 02/11/2010 00:00

>> Phận đời thái giám

Kỳ II: Những câu chuyện về thái giám 

(Cadn.com.vn) - Sử sách chép rằng, thái giám ra đời từ rất sớm, vào thời Tây Chu ở Trung Quốc (1066 – 770 TCN), là một “sản phẩm” đặc thù của chế độ phong kiến phương Đông. Trong mối tương tác và giao thoa với Trung Quốc, Việt Nam cũng tồn tại hệ thống thái giám trong lịch sử dân tộc, trong đó, dấu ấn quan trọng chính là bắt đầu từ sau giai đoạn hậu Lê – Trịnh. Để củng cố quyền lực, các chúa Trịnh cho thành lập “giám ban”, với ý đồ dùng các hoạn quan làm tai mắt, ngấm ngầm kiểm soát việc trong triều.

Chính điều này đã mở ra một “trang mới” trong sự nghiệp của các thái giám trong lịch sử Việt Nam, gắn liền với chế độ quân chủ phong kiến và trở thành một phần trong tiến trình lịch sử dân tộc đầy biến động. Chính điều này đã để lại biết bao câu chuyện buồn vui ở chốn thâm cung, bí sử mà các thái giám thường là những nhân vật có vai trò chủ chốt.

Ở cấm cung, nhiệm vụ hằng ngày của các thái giám là hầu hạ vua, Hoàng thái hậu, các cung tần mỹ nữ...; hoặc, sống ở các lăng để phục vụ cho các bà vợ góa của vua đã băng hà. Đặc biệt, thái giám còn người tuyển lựa hoặc ghi chép tên cung phi và ngày giờ vua “ngự dâm” để báo cho Quốc sử quán ghi vào sổ nhằm theo dõi những chuyện về sau. Và chính điều này tạo nên đặc quyền riêng của các thái giám, bởi không phải cung phi, mỹ nữ nào cũng may mắn được phục vụ vua.

Văn Miếu Huế-nơi vua Minh Mạng (1836) đã cho khắc bia ở bi đình răn dạy con cháu đời sau hạn chế dùng thái giám vào việc triều chính. 

Bởi vậy họ rất cần những thái giám luôn cận kề giới thiệu họ với vua, đổi lại các cung phi cũng phải “biết điều” trong việc cư xử với các thái giám nếu muốn vua chú ý. Và cũng từ việc này đã xảy ra nhiều chuyện khóc cười nơi thâm cung.  Chính vì  vậy, ở triều Nguyễn các vua chúa thấy được những tai họa khi tin dùng các thái giám nên chỉ sử dụng thái giám để “sai vặt” chốn hậu cung chứ không cho tham dự vào chính sự. Điển hình như vua Minh Mạng (năm 1836) đã cho khắc văn bia ở bi đình phía phải của Văn Miếu Huế nội dung răn dạy các con cháu hoàng tộc đời sau không cho các thái giám can dự vào việc chính, tránh hậu họa lâu dài.

Gặp “hậu duệ” thái giám trên đất Cố đô

Được những người am hiểu lịch sử ở Huế mách bảo, chúng tôi về làng Lựu Bảo, thuộc xã Hương Hồ, TT - Huế  - nơi còn lưu vết tích ngôi chùa ông Đồng (thái giám Tống Phước Đồng), gặp “cháu nội” của thái giám Tống Phước Đồng tên Tống Phước Sung (1953, làng Lựu Bảo, xã Hương Hồ, TT-Huế). Ông Sung bộc bạch: “Khi tôi còn bé, thì ông nội của tôi đã qua đời, do vậy, những ký ức về người ông chủ yếu được người thân trong gia đình thuật lại”.

Ông Tống Phước Sung đang đứng bên lăng mộ của ông nội- Thái giám Tống Phước Đồng được chôn tại khuôn viên chùa Kim Sơn. 

Tuy nhiên, những câu chuyện về người ông đặc biệt của mình, ông Sung còn nhớ rất rõ: Ông Đồng được phục vụ Vua Khải Định, được Vua tín cẩn, ân sủng, rồi nhận làm con nuôi (nên ban chữ Phước ở tên lót). Trong một dịp vua đi bên ngoài, ông lén lấy Long Bào để mặc thử, sự việc chẳng may bị một quan thái giám phát hiện nên lập tức báo với vua và Bộ hình... Chiếu theo luật, ông Đồng phạm trọng tội phải bị chém đầu. Rất may, nhà vua thương tình nên cho miễn tội chết, và đuổi ra khỏi cung, cho một ít tiền, đất ruộng ở làng Lựu Bảo (xã Hương Hồ, TT-Huế) để sinh sống.

Và như lẽ thường tình của các thái giám đương thời, sau khi bị đày lên làng Lựu Bảo, có bao nhiêu tiền, thái giám Tống Phước Đồng dựng chùa Kim Sơn (còn gọi là chùa ông Đồng). Trong thời gian này ông Đồng cũng tìm được “người bạn trăm năm” là bà Bùi Thị Lợi (ở cùng làng Lựu Bảo) để tâm sự tuổi già. Sau bao năm chung sống, hai người đã nhận nuôi một người con đặt tên là Tống Phước Thành (1932, hiện trú tại làng Lựu Bảo, xã Hương Hồ, TT-Huế, là bố của ông Sung bây giờ). Và có lẽ cha con ông Thành – Sung là hậu duệ duy nhất của các vị thái giám trong triều Nguyễn đến nay còn sống, còn nhớ và lưu truyền về những câu chuyện của Thái giám...

Hoàng Lịch

Kỳ cuối: Những vị thái giám nổi tiếng trong lịch sử VN.