Cần giải bài toán về nguồn nhân lực
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh là yêu cầu tất yếu của giáo dục hiện đại. Tuy nhiên, để triển khai được Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 trong các trường phổ thông, bài toán ngành GD-ĐT cần phải ưu tiên giải quyết chính là nguồn nhân lực.
Nhiều rào cản, thách thức từ thực tế
Dự thảo Bộ tiêu chí về đánh giá chất lượng nhà trường khi đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai vào các cơ sở giáo dục phổ thông vừa được Bộ GD-ĐT đưa ra lấy ý kiến gồm có 6 tiêu chuẩn, trong đó đáng chú ý là Tiêu chuẩn 2 và 4. Cụ thể, tại Tiêu chuẩn 2, các tiêu chí a, b, c về Chương trình giáo dục và hoạt động dạy học yêu cầu phải có ít nhất 3 môn học hoặc hoạt động giáo dục (ngoài môn Tiếng Anh) được triển khai bằng Tiếng Anh. Sinh hoạt chuyên môn giữa giáo viên Tiếng Anh và giáo viên các môn học/hoạt động giáo dục khác bằng tiếng Anh phải được tổ chức định kỳ hàng tháng. Kế hoạch bài dạy của giáo viên dạy học các môn học khác phải được biên soạn bằng Tiếng Anh. Tại Tiêu chuẩn 4, tiêu chí b yêu cầu phải có đủ giáo viên dạy các môn học, hoạt động giáo dục có đủ năng lực dạy học bằng Tiếng Anh theo quy định để triển khai dạy học môn học, hoạt động giáo dục bằng Tiếng Anh…
Theo ông Bùi Minh Quảng – Hiệu trưởng Trường THPT Sơn Trà (TP Đà Nẵng), các chỉ tiêu đặt ra trong Bộ Tiêu chí đánh giá, đặc biệt là các tiêu chí tại Tiêu chuẩn 2 và 4 thực sự là thách thức rất lớn cho các trường phổ thông. "Đa số giáo viên hiện nay được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn. Với các hoạt động đặc thù như trải nghiệm hay giáo dục địa phương, giáo viên chủ yếu chỉ tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn, nên để bắt buộc họ phải có trình độ tiếng Anh đủ để giảng dạy các nội dung này là rất khó khăn"- ông Bùi Minh Quảng cho hay.
Đồng tình với quan điểm này, bà Võ Thị Hồng Đào – Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi (xã Trà My), nơi có đến 65% học sinh là người dân tộc thiểu số, 35% còn lại là người Kinh - cho rằng, yêu cầu có ít nhất ba môn học hoặc hoạt động giáo dục được sử dụng bằng tiếng Anh cần có một lộ trình thực tế và phù hợp với điều kiện, đặc thù của từng vùng miền. Cũng theo bà Hồng Đào, đối với đội ngũ giáo viên không chuyên, khi thầy cô chưa đảm bảo năng lực tiếng Anh, việc vừa loay hoay với ngôn ngữ vừa phải truyền đạt kiến thức chuyên môn sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến lượng kiến thức mà học sinh tiếp nhận. Hơn nữa, nếu áp dụng máy móc yêu cầu tiếng Anh cho cả cán bộ quản lý và nhân viên văn thư, áp lực nhân sự sẽ trở nên cực kỳ căng thẳng. "Mục tiêu cuối cùng là người học đạt được chất lượng như thế nào, chứ nếu áp dụng mà làm chất lượng bộ môn không đạt mục tiêu chương trình thì rất khó khăn"- bà Đào bày tỏ quan điểm.
Phần lớn các nhà quản lý, giáo viên đều cho rằng, khi trước khi triển khai cần xem xét các yếu tố, đặc biệt là sự chênh lệch về điều kiện đội ngũ và cơ sở vật chất giữa các vùng miền, từ đặc thù học sinh, điều kiện dạy học đến nguồn nhân lực…
Cần có lộ trình và phù hợp với điều kiện từng vùng miền
Trên cơ sở nêu ra những thách thức, rào cản đó, các nhà quản lý, giáo viên tại Đà Nẵng đề xuất cần xây dựng lộ trình linh hoạt và phù hợp với điều kiện từng vùng miền, tránh áp dụng đồng loạt; cùng đó tăng cường bồi dưỡng giáo viên, mở rộng môi trường giao tiếp và học tập bằng tiếng Anh trong nhà trường.
Theo PGS.TS Trần Hữu Phúc- Chủ tịch Công đoàn Đại học Đà Nẵng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHNN Đà Nẵng, trong 6 tiêu chuẩn mà dự thảo đề ra, tiêu chuẩn thứ hai về chương trình và hoạt động dạy học cần được ưu tiên hàng đầu. Để làm được điều này, cần có một chương trình bồi dưỡng bài bản, giúp tất cả các đối tượng có liên quan đều có thể tiếp cận và thích nghi; đồng thời phải có hướng dẫn cụ thể, đầy đủ.
Cũng theo PGS.TS Trần Hữu Phúc, nên chăng chọn một môn học để làm hình mẫu triển khai thí điểm rồi tổ chức rút kinh nghiệm để xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá đầy đủ. "Chúng ta làm để rút kinh nghiệm, từ đó xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá đầy đủ hơn. Phải làm một cách cụ thể để xác định lộ trình: rõ người, rõ việc, rõ thời gian và rõ sản phẩm…"- PGS.TS Trần Hữu Phúc nói. Trước mắt, theo ông Phúc, nên đầu tư vào người dạy, có như thế mới kỳ vọng việc đưa tiếng Anh trở trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học đi đúng hướng như mục tiêu đặt ra.
Cũng với quan điểm nên chọn một môn học ngoài tiếng Anh để triển khai thí điểm, Hiệu trưởng Trường THCS Lê Thánh Tôn Trình Quang Long bổ sung thêm, trước mắt nên triển khai thực hiện 1 môn dạy song ngữ đối với những trường có khả năng đáp ứng, tiêu chuẩn. Ý kiến đề xuất này dựa trên cơ sở thực tế tại chính ngôi trường ông đang quản lý: Dù nằm trên địa bàn phường trung tâm thành phố, nhưng trường THCS Lê Thánh Tôn vẫn là một ngôi trường có quy mô nhỏ với 18 lớp học, còn gặp nhiều khó khăn về đội ngũ giáo viên và điều kiện cơ sở vật chất. Về phía học sinh, với quy mô chỉ từ 4 đến 5 lớp mỗi khối, việc lựa chọn ra đủ số lượng học sinh (khoảng 30-35 em) có đủ năng lực để học hoàn toàn các môn khoa học bằng tiếng Anh đã là một thử thách không nhỏ.
Đối với Tiêu chuẩn 2 phải có 3 môn học triển khai bằng tiếng Anh, theo ông Trịnh Quang Long, khó đáp ứng ngay liền vì không có đủ đội ngũ giáo viên, cần có lộ trình thực hiện, có thể là 5 hay 10 năm…
Có thể nói, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, việc thông thạo tiếng Anh không chỉ là lợi thế mà còn trở thành yêu cầu thiết yếu đối với thế hệ trẻ. Vì thế, việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học là một chủ trương lớn mang ý nghĩa chiến lược, gắn liền với Đề án quốc gia và Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị cũng như Nghị quyết 71 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, để triển khai thực hiện chủ trương này là cả một quá trình chuẩn bị dài hơi từ đội ngũ nhân lực đến cơ sở vật chất…, vì thế, cần có lộ trình thực tế và phải phù hợp với điều kiện của từng khu vực, vùng miền.
P.Thủy
