Dấu chân người lính
Kỳ 1: Đời lính oai hùng...
(Cadn.com.vn) - 20 tuổi (năm 1962), đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, từ biệt quê hương, gia đình ở xã Tân Dương, H. Thủy Nguyên, TP Hải Phòng, ông khoác ba lô lên đường làm nhiệm vụ, chiến đấu tại mặt trận 44 Quảng - Đà. Thống nhất đất nước, trở về với cuộc sống đời thường cùng gia đình nhỏ, trong ông luôn canh cánh một nỗi niềm về những đồng đội của mình đã hy sinh nhưng chưa tìm thấy hài cốt. Thế rồi, kể từ năm 1992, đôi chân ông dặm dài về lại chiến trường xưa những mong tìm được đồng đội của mình. Và kết quả là trong thời gian từ năm 1992 đến nay, ông đã tìm thấy hài cốt của hơn 30 liệt sĩ, đưa họ trở về nơi “chôn nhau cắt rốn” trong niềm vui vô bờ của những người thân yêu nơi quê nhà. Ông là Bùi Minh Kiểm (1942, hiện trú tổ 3, Xuân Thiều, P. Hòa Hiệp
Lần ấy, khi tìm đến nhà ông, tôi đã không gặp may bởi trước đó vài ngày, ông đã khăn gói cùng những thân nhân liệt sĩ ở miền Bắc vào lên vùng núi xã Hòa Bắc, Hòa Vang để tìm mộ. Hỏi bác Lê Thị Ngọc (vợ ông) thì được nhắn nhủ rằng, “ông ấy đi nhưng có hẹn ngày về đâu”... Bẵng đi một thời gian, khi được tin ông có mặt ở nhà, tôi liền chớp cơ hội để gặp bằng được ông. Căn nhà nhỏ nằm khuất sâu trong một con hẻm ở tổ 3, Xuân Thiều, P. Hòa Hiệp
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có 8 anh chị em ở H. Thủy Nguyên, TP Hải Phòng khi quê hương đã qua thời giặc giã, nhưng đất nước vẫn chưa ngớt tiếng bom đạn của kẻ thù. Ý thức được trách nhiệm của những người trai trẻ trong thời binh biến, nhà có 4 anh em trai thì hết 3 người xung vào quân đội, 4 chị em gái cũng lần lượt vào thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tiếp tế cho chiến trường lớn miền Nam. Năm 20 tuổi (1962), theo chân các anh, ông khoác ba lô lên đường ra trận. Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế vào đơn vị 91 ĐặC công (thuộc Quân khu V) chiến đấu tại mặt trận Quảng - Đà từ năm 1964 - 1969. Từ năm 1970 - 1975, ông giữ chức vụ Chính trị viên Đại đội 11, thuộc Đoàn pháo binh 575.
![]() |
|
“Bản gốc” giấy chứng nhận 4 danh hiệu Dũng sĩ và 3 Huân chương Chiến công cùng 31 |
Trải qua rất nhiều trận đánh, có những lúc đối diện với cái chết trong gang tấc nhưng hòn tên, mũi đạn vẫn không thể làm ông khuất phục. Ông bảo, trong đời binh nghiệp của mình, ông nhớ nhất là trận đánh “không ngang sức” với kẻ thù. Đó là vào khoảng 9 giờ một ngày tháng 4-1968, khi đơn vị của ông gồm 4 người (thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 140-Bộ Quốc phòng) đang đào hầm trên bãi cát gần bờ sông Thạnh Mỹ thì hàng chục chiếc trực thăng của địch bất ngờ đổ bộ xuống vị trí nơi ông và đồng đội đang đào hầm. Trước khi đáp xuống mặt đất, bọn chúng đã cho pháo tập kích, trong số 4 người thì 2 người trúng đạn hy sinh. Không còn sự lựa chọn nào khác, ông và người còn lại (đồng chí Nguyễn Phú Thao, quê Hải Phòng) quyết một phen sống còn với giặc. 2 người với 2 khẩu AK trong tay phải đối mặt với một tiểu đoàn trực thăng biệt động 37 của ngụy, nhưng hai người đã bắn hạ được 8 máy bay, thiêu cháy hàng trăm tên giặc. Đáp lại, bọn chúng tăng cường hỏa lực bắn trả dữ dội và hậu quả là 2 người đều bị thương nặng. Lượng sức mình không thể tiếp tục chiến đấu được nữa, hai người tìm cách bò ra mép sông và thả người xuống cho dòng nước cuốn trôi để tránh lọt vào tay giặc. Trôi theo dòng nước được khoảng vài ki-lô-mét, hai người gắng sức men theo bờ sông bò lên bờ rồi ngất đi. Vài giờ sau được nhân dân địa phương phát hiện đem vào rừng ẩn náu rồi tìm cách liên lạc với đơn vị của ông, sau đó, ông được đưa vào bệnh viện điều trị vết thương. Ghi nhận công lao của ông và đồng đội, lần ấy ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.
Năm 1970, ông chuyển về công tác, chiến đấu và giữ chức vụ Chính trị viên Đại đội 11, Đoàn pháo binh 575. Cuối năm 1971 đầu 1972, ông được đơn vị giao nhiệm vụ phụ trách 4 trinh sát khác đặt đài quan sát trên đỉnh Bà Nà - Núi Chúa để theo dõi tình hình hoạt động của địch ở sân bay Đà Nẵng.
![]() ![]() |
|
Vợ chồng ông Bùi Minh Kiểm thời trẻ và bây giờ. |
Nhớ lại trận đánh mà ông tham gia cùng các đơn vị ở Đoàn pháo binh 575 vào ngày 2-8-1972, ông không khỏi tự hào rằng mình là một trong những người được góp một phần nhỏ công lao vào chiến thắng giòn giã ấy. Trước đó, công tác chuẩn bị cho trận đánh “lịch sử” đã được lãnh đạo thống nhất phương án. Táo bạo và bất ngờ, các trận địa pháo của Đoàn 575 đặt tại trận địa Hòa Bình (Hòa Vang) và Điện Sơn (Điện Bàn) phát hỏa lúc 5 giờ 35 ngày 2-8, ngay trước mũi hành quân tìm diệt của địch (cách trận địa Hòa Bình chỉ vài trăm mét). 80 viên hỏa tiễn “tìm” đúng mục tiêu, phá hủy 57 máy bay, diệt 147 tên Mỹ hầu hết là sĩ quan, giặc lái, kho xăng trong sân bay bốc cháy dữ dội 5 giờ liền, nhiều phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy. Trận đánh để đời của Đoàn 575 đã làm giặc Mỹ ngớ ra không kịp đối phó...
Vừa qua, nhân dịp khánh thành “Tượng đài chiến thắng” do các cựu chiến binh Đoàn pháo binh 575 anh hùng xây dựng, được gặp lại những đồng đội cũ của mình, ông không khỏi xúc động, tự hào. Trong bản ghi thành tích chiến đấu của đơn vị, cá nhân ông thật đáng tự hào: Gần 10 năm (1966-1975), Đoàn pháo binh 575 đã đánh hơn 500 trận, tiêu diệt 6.000 tên địch với hàng ngàn sĩ quan; phá hủy 780 máy bay, 1.000 xe quân sự, 200 khẩu pháo các loại, thiêu cháy 50 triệu lít xăng dầu và rất nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ. Đơn vị đã được Đảng, Nhà nước tặng 10 Huân chương Quân công, hàng trăm Huân chương Chiến công, được tuyên dương đơn vị Anh hùng LLVTND ngày 31-3-1973... Trong thời gian 1964-1975, với những thành tích xuất sắc đã đạt được, ông được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công, 4 danh hiệu Dũng sĩ (diệt Mỹ, diệt ngụy, diệt máy bay, diệt xe cơ giới); 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng, 1 Huân chương Kháng chiến và 31 bằng khen, giấy khen các loại...
Ghi chép: Doãn Hùng
(còn nữa)



