Ứng phó rủi ro xung đột Trung Đông: Linh hoạt điều hành giá, đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước

Thứ tư, 04/03/2026 09:18

Trong bối cảnh giá dầu thô và sản phẩm xăng dầu thế giới tăng mạnh do xung đột tại Trung Đông, việc hạn chế xuất khẩu dầu thô, ưu tiên dự trữ trong nước và điều hành linh hoạt giá bán chính là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm nguồn cung xăng dầu và an ninh năng lượng quốc gia.

Một điểm bán xăng sinh học của PVOIL. Ảnh: TTXVN
Một điểm bán xăng sinh học của PVOIL. Ảnh: TTXVN

Gián đoạn nguồn cung và biến động mạnh giá dầu

Eo biển Hormuz là tuyến vận tải năng lượng chiến lược quan trọng bậc nhất thế giới, kết nối các nước sản xuất dầu chủ chốt khu vực Vùng Vịnh với thị trường tiêu thụ toàn cầu, đặc biệt là châu Á. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), mỗi ngày có khoảng 20 triệu thùng dầu và khí ngưng tụ đi qua tuyến này, tương đương gần 20% tổng tiêu thụ dầu toàn cầu và hơn 25% thương mại dầu bằng đường biển. Khoảng 84% lượng dầu qua Hormuz được vận chuyển tới châu Á, khiến khu vực này chịu tác động trực tiếp và nhanh nhất nếu xảy ra gián đoạn.

Dù Saudi Arabia và UAE có hệ thống đường ống phụ bypass, tổng công suất thay thế chỉ khoảng 2,6 triệu thùng/ngày, không đủ bù đắp khi tuyến hàng hải bị gián đoạn nghiêm trọng. Do đó, bất ổn tại Hormuz có thể làm tăng phụ phí giá dầu, chi phí logistics, bảo hiểm hàng hải và gây áp lực lên nguồn cung cho các nhà máy lọc dầu châu Á.

EIA và nhiều tổ chức phân tích nhận định thị trường hiện vẫn tương đối đủ cung, nên biến động giá chủ yếu phản ánh phần bù rủi ro và rủi ro logistics hơn là thiếu hụt vật lý. Barclays và Reuters consensus cho rằng chỉ cần gián đoạn 1 triệu thùng/ngày cũng có thể xóa phần dư thừa toàn cầu. J.P. Morgan ước tính nếu 2,1 triệu thùng/ngày của Iran bị gián đoạn, giá Brent có thể lên 120 USD/thùng, trong khi Goldman Sachs cảnh báo thiếu hụt công suất dự phòng. S&P Global và Reuters cũng lưu ý phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh qua Hormuz có thể tăng 300-500%.

Kích hoạt ưu tiên dự trữ dầu thô trong nước

Ông Nguyễn Việt Thắng - Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Lọc Hóa Dầu Bình Sơn (BSR), đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) - cho biết Nhà máy Lọc dầu Dung Quất hiện sử dụng khoảng 30-35% dầu thô nhập khẩu, chủ yếu từ Tây Phi, Địa Trung Hải, Mỹ và một phần từ Trung Đông. Vì vậy, nếu xung đột tại Trung Đông kéo dài, giá dầu, phụ phí, cước vận chuyển và bảo hiểm có thể tiếp tục leo thang, làm tăng đáng kể chi phí đầu vào và rủi ro tài chính.

Ngay từ đầu năm 2026, để phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số và chủ động ứng phó biến động toàn cầu cũng như tác động của biến đổi khí hậu, BSR đã nâng mức tồn kho, điều hành sản xuất linh hoạt và đa dạng hóa nguồn cung. Theo chỉ đạo của Bộ Công Thương và Petrovietnam, BSR ký thỏa thuận cung cấp dầu thô với hai tập đoàn năng lượng lớn của Mỹ là ExxonMobil và Chevron, nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định và góp phần thu hẹp chênh lệch cán cân thương mại Việt Nam - Mỹ.

Trong giai đoạn tháng 3-5/2026, BSR đã ký hợp đồng mua khoảng 3 triệu thùng dầu thô nhập khẩu qua các chủng loại Iboe, Bu Attifel, Medanito và Palanca Blend. Dù không thuộc khu vực xung đột trực tiếp, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông vẫn có thể ảnh hưởng gián tiếp đến tiến độ giao hàng, chi phí vận tải, bảo hiểm và an toàn hàng hải. Riêng nhu cầu mua bổ sung theo hợp đồng chuyến trong tháng 5 ước 900.000-1 triệu thùng và tháng 6 khoảng 1-1,3 triệu thùng. Trong bối cảnh đó, việc vận hành nhà máy ở mức 118-120% công suất sẽ chịu áp lực lớn về giá cả và khả năng tiếp cận nguồn hàng.

Tháng 2 vừa qua, BSR triển khai mua cấu tử xăng có trị số octane cao để phối trộn. Tuy nhiên, do nguồn cung khan hiếm và thị trường biến động mạnh, doanh nghiệp chưa mua đủ khối lượng theo kế hoạch, ảnh hưởng đến phương án gia tăng chế biến trong tháng 3/2026. Để đạt công suất quy đổi tối thiểu 120% (bao gồm dầu thô và nguyên liệu trung gian), BSR đang nỗ lực tìm kiếm nguồn bổ sung trong tháng 3-4, làm gia tăng áp lực mua hàng trong bối cảnh thị trường bất lợi.

Ngoài yếu tố giá, rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng cũng gia tăng khi một số quốc gia có thể hạn chế xuất khẩu để ưu tiên nhu cầu nội địa. Thị trường vận tải biển và bảo hiểm biến động, thời gian giao hàng kéo dài có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch vận hành nhà máy, đặc biệt cuối quý II và đầu quý III/2026. Khi bất ổn địa chính trị gia tăng, nhu cầu đối với dầu thô nội địa cũng tăng, dẫn đến cạnh tranh gay gắt trong các đợt đấu thầu quốc tế mua dầu thô Việt Nam.

Để giảm nguy cơ thiếu hụt khiến nhà máy phải điều chỉnh công suất hoặc không hoàn thành kế hoạch, BSR kiến nghị cơ chế ưu tiên mua tối đa dầu thô và condensate khai thác trong nước. Đồng thời, đề xuất áp dụng cơ chế tạm thời ưu tiên dầu thô nội địa cho Dung Quất chế biến xăng dầu thành phẩm và hạn chế xuất khẩu trong giai đoạn cao điểm rủi ro (đến hết quý III/2026 hoặc đến khi thị trường quốc tế ổn định), nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Đặc biệt, để bảo đảm đủ nguồn dầu cho tháng 5-6/2026, BSR đề nghị được phép mua trực tiếp dầu thô từ các lô Ruby, Bunga Orkid (BO) và Chim Sáo theo mức giá chào thầu cao nhất của kỳ gần nhất, như giải pháp tình thế trong bối cảnh thị trường biến động mạnh.

Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, khi giá dầu thế giới tăng, chi phí nhập khẩu nhiên liệu của Việt Nam gần như chắc chắn chịu áp lực đi lên, tác động đến giá bán lẻ, vận tải, sản xuất, logistics và mặt bằng giá chung. Ông nhấn mạnh Việt Nam cần chú trọng chiến lược dự trữ để giảm cú sốc chi phí, đồng thời sớm xây dựng các kịch bản dự báo trong giả định xấu nhất. Bên cạnh dự trữ dài hạn, cần tính toán sử dụng hợp đồng mua trước, hợp đồng tương lai và đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch sang năng lượng sạch nhằm giảm phụ thuộc vào khu vực rủi ro cao và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.

Linh hoạt trong điều hành giá

Là thương nhân đầu mối lớn thứ hai trên thị trường xăng dầu, Chủ tịch Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) Cao Hoài Dương cho biết, trong điều kiện bình thường, khoảng 80% nguồn hàng của PVOIL được cung ứng từ hai nhà máy lọc dầu trong nước là Dung Quất và Nghi Sơn; 20% còn lại nhập khẩu chủ yếu từ Singapore và Hàn Quốc. Doanh nghiệp đã ký hợp đồng dài hạn với hai nhà máy trong nước và các nhà cung ứng nước ngoài nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định cho thị trường. Trước diễn biến xung đột Trung Đông, PVOIL đã làm việc với lãnh đạo hai nhà máy Nghi Sơn và Bình Sơn. Đại diện các nhà máy khẳng định vẫn bảo đảm đủ sản lượng theo hợp đồng trong tháng 3 nhờ đã chuẩn bị tồn kho dầu thô dự phòng. Tuy nhiên, khả năng cung ứng trong tháng 4 và 5 còn phụ thuộc lớn vào tình hình chiến sự.

Theo ông Cao Hoài Dương, chính sách điều hành giá xăng dầu trong bối cảnh này cần linh hoạt, tính đúng và đủ các chi phí, phụ phí nhập khẩu để các thương nhân đầu mối có đủ nguồn lực tài chính duy trì nhập khẩu, qua đó bảo đảm an ninh năng lượng. Ông dẫn lại bài học năm 2022 khi xung đột Nga - Ukraine khiến giá dầu thế giới tăng mạnh, trong khi giá bán trong nước điều chỉnh chậm, làm giá nhập khẩu cao hơn giá bán. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã dừng nhập khẩu để tránh lỗ, gây thiếu hụt cục bộ, buộc PVOIL và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) phải gánh phần lớn trách nhiệm bảo đảm nguồn cung thay cho 33 thương nhân đầu mối theo quy định.

Anh Nguyễn