Chuyện về Hai Lộc

Thứ tư, 11/03/2026 08:20

Bà có tên khai sinh là Nguyễn Thị Lộc, sinh năm 1928, cầm tinh con rắn. Bà bảo đời bà khổ cực, lăn lội mò mẫm như con rắn, nhưng lúc nào cũng có tiền rủng rỉnh trong túi, không giàu mà cũng không nghèo là nhờ có lộc, nhờ chữ “lộc” như cái tên cúng cơm của bà. Cũng như nhiều người phụ nữ ở miền Nam trong chiến tranh, cuộc đời bà là câu chuyện dài về lòng can trường, sự thủy chung son sắc...

Bà Nguyễn Thị Lộc và tác giả.
Bà Nguyễn Thị Lộc và tác giả.

Hai Lộc là con gái đầu lòng trong gia đình 5 người con của ông thủ Lộc, xóm Trung, làng Hà My, xã Điện Dương (bây giờ là Khối phố Hà My Trung, phường Điện Bàn Đông, TP Đà Nẵng). Thời con gái, Hai Lộc là cô gái nết na thùy mị trong làng, dáng người thon thả, tóc xoăn tít giống cha. Mười tám tuổi, Hai Lộc lấy chồng ông Phạm Dương, sinh năm 1921. Ông bà lấy nhau sinh được 2 người con Phạm Thị Hồng và Phạm Văn Hiến.

Tham gia cách mạng, sau Hiệp định Genève năm 1954, Phạm Dương được tổ chức cài cắm lại hoạt động bí mật ở quê nhà. Đến tháng 2-1955, ông mới lên đường tập kết ra miền Bắc, hẹn 2 năm sau Tổng tuyển cử sẽ trở về. Ở lại quê nhà trong khói lửa chiến tranh, thân gái dặm trường, Hai Lộc chống chọi để nuôi mẹ chồng và 2 đứa con thơ dại, chờ ngày đoàn tụ như lời hẹn ước của chồng.

Chiến tranh ngày càng ác liệt. Giặc Mỹ điên cuồng đốt nhà, cày xới ruộng vườn, giết người, nhiều người dân phải chạy tản cư, kẻ ra Đà Nẵng, người vào Hội An để lánh nạn. Thời gian này, Hai Lộc vẫn bám trụ ở quê nhà, làm ruộng, nuôi 2 đứa con thơ dại, tham gia vào công tác Phụ nữ, làm Chi hội phó Chi hội Phụ nữ Vùng 8, chở che nuôi giấu cán bộ hoạt động của tỉnh Quảng Nam và huyện Điện Bàn trú hầm bí mật trong nhà như đồng chí Phạm Triêm (Phạm Đức Nam), Phạm Hồng Pha, Hoàng Minh Thắng,... Thời gian sau, Hai Lộc gửi đứa con gái đầu Phạm Thị Hồng vừa tròn 13 tuổi vào học may ở Cẩm Hà, Hội An. Sau đó đưa ra trú nhờ nhà bà con ở Mỹ Khê, quận 3, Đà Nẵng, làm nghề may thủ công, rồi lấy chồng, còn bà cùng con trai Phạm Văn Hiến chạy vào trú Cẩm Hà, hàng ngày buôn rau hành ở chợ Hội An kiếm sống. Anh Hiến ban đầu học nghề sửa Honda trong xóm, sau đó thì đi làm thợ hồ với người chú họ ở Cẩm Thanh nhưng lại nằm trong tuổi phải đi quân dịch. Hai Lộc kể, một đêm trời mưa gió, người con trai về nói với bà: Chẳng lẽ cha con đi tập kết mà con lại đi quân dịch cầm súng của ngụy bắn lại cha mình? Bà bảo: Để mẹ tính. Sau đó, anh lần theo một đường dây của Huyện đội Điện Bàn đưa ra căn cứ ở Điện Dương để gia nhập vào đội quân giải phóng.

Ở nhà, Hai Lộc phải chịu bao cảnh đàn áp, truy xét của ngụy quân, ngụy quyền xã Cẩm Hà, quận Hiếu Nhơn. Trong hoàn cảnh như vậy, bà vẫn bí mật giữ mối liên lạc với Cách mạng. Một buổi chiều, khi Hai Lộc bán rau hành ở chợ Hội An vừa về đến nhà, người đại diện chính quyền xã Cẩm Hà mang giấy triệu tập đến thông báo ngày mai mời lên Hội đồng xã Cẩm Hà, quận Hiếu Nhơn để làm việc. Đúng hẹn, 8 giờ sáng hôm sau, Hai Lộc đến cơ quan xã Cẩm Hà ngồi đợi trong tâm trạng rối bời nhưng vẫn bình tĩnh như không hề có chuyện gì xảy ra.

Ngồi trước mặt bà là 4 tên cảnh sát cao to, hung tợn. Chúng thay phiên nhau tra đi hỏi lại: Chồng bà là ông Phạm Dương, tập kết ra miền Bắc theo Cộng sản từ năm 1955, có thư từ liên lạc với bà hay không? Con trai bà đi đâu, làm gì với ai? Bà còn nuôi giấu mấy tay Cộng sản “gộc” trong nhà mà cứ chối đây đẫy!

Vừa quát tháo, bọn chúng vừa đập mạnh tay xuống bàn để uy hiếp tinh thần bà. Hai Lộc vẫn không hề tỏ ra run sợ, bình tĩnh đáp: Các ông không tin thì cứ ra Đà Nẵng mà điều tra. Con tôi theo công trình ra làm thợ nề ở ngã 3 Đà Nẵng mấy tháng nay! Chồng tôi tập kết miền Bắc từ năm 1955, đến nay không thư từ tin tức chi cả, không biết còn sống hay đã chết!...

Thấy không thể khai thác được thông tin gì ở Hai Lộc, bọn chúng đành thả bà về. Từ đó, thỉnh thoảng bọn cảnh sát và Hội đồng xã Cẩm Hà, quận Hiếu Nhơn thường xuyên lui tới nhà bà để theo dõi, điều tra. Bọn chúng rất điên tiết nhưng không làm được gì vì không có chứng cứ, cũng không tìm ra tông tích đứa con trai của bà ở đâu cả!

Năm 1975, Hai Lộc về lại quê hương dựng nhà dựng cửa, khai hoang vỡ hóa đồng ruộng lấy đất canh tác. Không như lời hẹn ước khi đi tập kết, phải mất 21 năm sau khi đất nước thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, năm 1976, Phạm Dương mới từ miền Bắc trở về quê hương, đoàn tụ gia đình. Vợ chồng, cha con gặp nhau mừng mừng tủi tủi, không nói nên lời, ôm chầm nhau giàn giụa nước mắt…

Không như nhiều trường hợp cán bộ đã có gia đình ở miền Nam khi tập kết ra Bắc vì hoàn cảnh chiến tranh đã lập gia đình mới, ông Phạm Dương một lòng chung thủy với người vợ hiền và 2 đứa con thơ chờ đợi bao nhiêu năm đằng đẳng ở miền Nam. Hai Lộc cũng vậy, suốt 21 năm trời bà thủ tiết chờ chồng, nuôi con trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, biết bao gian khổ và cám dỗ nhưng bà vẫn không hề có suy nghĩ đi bước nữa.

Bà Nguyễn Thị Lộc được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng III. Bà vừa qua đời vào đầu năm 2026. Mỗi khi nghĩ về những người như Hai Lộc, trong tôi dâng lên bao cảm xúc khâm phục, trân quý và tự hào về những người phụ nữ ở miền Nam một thời đau thương nhưng anh dũng trên mảnh đất trung dũng, kiên cường này.

Đinh Văn Dũng