Di chúc không ghi đầy đủ thông tin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có khai nhận di sản thừa kế được không?
*Bạn đọc hỏi: ông Trần Lê Ng., trú tại TP Đà Nẵng hỏi: Ba tôi là Trần Th. (sinh năm 1932, mất năm 2011) và mẹ tôi là Lê Thiên Ng. (sinh năm 1942, mất năm 2012) có 5 người con, các anh chị đều đã lập gia đình và được ba mẹ cho đất làm nhà, ở riêng từ lâu. Tôi là con út trong nhà, từ nhỏ đến khi lập gia đình vẫn sinh sống cùng ba mẹ tại ngôi nhà có địa chỉ tại Khối 1, thị trấn X., huyện Y., tỉnh Quảng Nam (nay là Khối phố 1, phường Y., TP Đà nẵng). Ngày 24/6/2006, ba mẹ tôi lập di chúc tại UBND thị trấn X. để lại nhà đất nêu trên cho vợ chồng tôi và được UBND chứng thực. Vào thời điểm lập di chúc, thửa đất nêu trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là GCN) do ba mẹ tôi đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, trong nội dung di chúc do UBND thị trấn X. lập và chứng thực lại không ghi đầy đủ thông tin nhà và đất theo GCN đã được cơ quan có thẩm quyền cấp (số GCN, số tờ, số thửa, diện tích, ngày cấp GCN…). Hiện nay, khi có nhu cầu làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại Văn phòng công chứng địa phương thì hồ sơ của tôi bị trả lại do di chúc không ghi đầy đủ thông tin về thửa đất nên không thể xác định được di sản thừa kế của cha mẹ tôi theo di chúc. Vậy trong trường hợp này, di chúc của ba mẹ tôi có còn giá trị pháp lý không? Nếu di chúc không ghi rõ thông tin về thửa đất theo GCN thì vợ chồng tôi phải làm gì để đảm bảo quyền lợi của mình?
Luật sư Trương Đức Trung - Trưởng Chi nhánh Quảng Nam - Văn phòng Luật sư Phong & Partners, trả lời:
Di chúc là một trong những văn bản thể hiện ý chí của người đã khuất. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều di chúc được lập không đảm bảo về mặt hình thức cũng như nội dung, dẫn đến việc khai nhận di sản thừa kế gặp một số khó khăn nhất định. Vậy trong những trường hợp này, người thừa kế cần thực hiện những thủ tục gì để đảm bảo quyền lợi của mình theo nội dung di chúc mà người mất để lại?
Thứ nhất, về điều kiện của di chúc hợp pháp
Để thực hiện việc khai nhận thừa kế theo di chúc, cần đảm bảo rằng di chúc được lập là hợp pháp. Điều 630 Bộ luật Dân sự quy định về di chúc hợp pháp như sau:
“Điều 630. Di chúc hợp pháp
1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.”
Di chúc được xem là một dạng giao dịch dân sự đặc biệt, thể hiện hành vi pháp lý đơn phương của một người đối với việc định đoạt khối tài sản của họ sau khi họ qua đời. Do đó, điều kiện tiên quyết để di chúc có hiệu lực đó chính là điều kiện về năng lực chủ thể của người lập di chúc. Người lập di chúc cần phải minh mẫn, sáng suốt và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự vào thời điểm lập di chúc. Khi đã thỏa mãn về điều kiện này thì mới xem xét đến nội dung và hình thức của di chúc.
Theo quy định của pháp luật, di chúc phải được lập thành văn bản, trong trường hợp không thể lập được bằng văn bản thì có thể di chúc miệng nhưng cần phải tuân thủ các điều kiện nhất định. Đối với di chúc bằng văn bản, pháp luật cũng cho phép nhiều hình thức khác nhau như di chúc không có người làm chứng; di chúc có người làm chứng; di chúc có công chứng, chứng thực và di chúc không có công chứng, chứng thực. Trong trường hợp của ông Trần Lê Ng., di chúc của cha mẹ ông được lập tại UBND thị trấn X. và được chứng thực nên về mặt hình thức có thể đảm bảo theo quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, để được xem là di chúc hợp pháp, di chúc mà cha mẹ ông Ng. để lại cần đáp ứng thêm các điều kiện về nội dung theo quy định tại Điều 631 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:
“1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.”
Theo quy định nêu trên, pháp luật không bắt buộc di chúc phải ghi đầy đủ, chi tiết toàn bộ các thông tin pháp lý của tài sản như số thửa, số tờ bản đồ, diện tích, ngày cấp GCN… mà chỉ yêu cầu về nội dung di sản để lại và nơi có di sản. Do đó, trong trường hợp di chúc ghi nhận rõ địa chỉ nhà, đất; thể hiện quá trình quản lý, sử dụng thực tế hoặc có thể xác định được tài sản thông qua các tài liệu, chứng cứ khác kèm theo thì vẫn có cơ sở để xem xét giá trị pháp lý của di chúc.
Đối chiếu với trường hợp của ông Trần Lê Ng., cha mẹ ông đã lập di chúc vào năm 2006 tại UBND thị trấn X. và được chứng thực theo quy định. Nội dung di chúc thể hiện ý chí để lại căn nhà và thửa đất tại Khối 1, thị trấn X. cho vợ chồng ông Ng. quản lý, sử dụng. Như vậy, nếu tại thời điểm lập di chúc, cha mẹ ông hoàn toàn minh mẫn, tự nguyện và việc lập di chúc được thực hiện đúng hình thức theo quy định của pháp luật thì về nguyên tắc, di chúc này vẫn có giá trị pháp lý.
Tóm lại, việc trong nội dung di chúc chưa ghi đầy đủ các thông tin chi tiết của thửa đất theo GCN (như số thửa, số tờ bản đồ, diện tích, ngày cấp...) không đồng nghĩa với việc di chúc đương nhiên bị vô hiệu nếu vẫn có căn cứ để xác định được rõ ràng tài sản mà người lập di chúc muốn định đoạt. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thiếu các thông tin chi tiết này có thể gây ra những khó khăn nhất định trong quá trình xác định di sản và thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại cơ quan có thẩm quyền.
Thứ hai, hướng xử lý để khai nhận thừa kế phù hợp với quy định pháp luật
Theo ông Ng. chia sẻ, quyền sử dụng đất nêu trên là tài sản chung của cha mẹ ông và họ có toàn quyền định đoạt đối với thửa đất. Do đó, di chúc thể hiện ý chí để lại toàn bộ nhà, đất cho vợ chồng ông là phù hợp với quy định pháp luật. Khi đó, mặc dù di chúc không ghi đầy đủ các thông tin chi tiết của thửa đất theo GCN đã được cấp, nhưng nếu có thể xác định được rõ ràng di sản để lại (thông qua địa chỉ, thực tế sử dụng, hồ sơ địa chính, …) thì ông vẫn có thể thực hiện việc khai nhận thừa kế. Đối với di chúc được lập và chứng thực bởi UBND thị trấn X., vợ chồng ông Ng. có thể liên hệ UBND thị trấn X. để được hướng dẫn bổ sung các tài liệu cần thiết và thực hiện khai nhận di sản thừa kế theo nội dung di chúc đã lập.
Trường hợp không thể khai nhận theo nội dung di chúc này, vợ chồng ông Ng. có thể yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận hiệu lực của di chúc mà cha mẹ ông lập vào ngày 24/6/2006 đã được UBND thị trấn X. chứng thực. Để bảo vệ cho yêu cầu của mình, vợ chồng ông Trần Lê Ng. cần thu thập và cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh, bao gồm: Di chúc đã được UBND thị trấn X. chứng thực; GCN đứng tên cha mẹ ông; các tài liệu nhằm chứng minh rằng tài sản được nêu trong di chúc chính là tài sản đã được cấp theo Giấy chứng nhận;…
Trong quá trình giải quyết vụ việc, trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp, Tòa án sẽ xem xét, đánh giá toàn diện để đưa ra phán quyết phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp di chúc được xác định là hợp pháp và có đủ căn cứ để xác định phạm vi di sản thì việc phân chia di sản thừa kế sẽ được thực hiện theo nội dung di chúc. Ngược lại, nếu di chúc không hợp pháp hoặc không đủ căn cứ để xác định phạm vi di sản theo nội dung di chúc thì việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 về trường hợp thừa kế theo pháp luật.
Bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án sẽ là căn cứ để các bên tiếp tục thực hiện các thủ tục liên quan đến việc đăng ký biến động, sang tên quyền sử dụng đất theo quy định.
Trên đây là ý kiến tư vấn của Luật sư dựa trên những thông tin do ông Trần Lê Ng. cung cấp. Trên thực tế, việc xác định hiệu lực di chúc, phạm vi di sản và hướng xử lý cụ thể còn phụ thuộc vào hồ sơ, tài liệu và tình tiết của từng vụ việc. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông Ng. cần liên hệ trực tiếp với Luật sư hoặc cơ quan có thẩm quyền để được tư vấn, hướng dẫn phù hợp.
Chuyên mục này có sự hợp tác về chuyên môn của Văn phòng Luật sư Phong & Partners. Đường dây nóng hỗ trợ tư vấn: 0236.3822678 - 0905.102425











