Không ký hợp đồng lao động, bị tai nạn tại công trường có được bồi thường?
* Bạn đọc hỏi: Chị Minh Anh, trú tại TP Đà Nẵng, hỏi: Chồng tôi làm việc tại một công trường xây dựng mới hơn 1 tháng, không ký hợp đồng lao động. Vừa rồi chồng tôi bị tai nạn gãy chân trong lúc đang xây tường trên cao, hiện đang nằm viện. Xin hỏi chồng tôi có được bồi thường tai nạn lao động không? Ai sẽ bồi thường, chủ thầu hay chủ đầu tư của công trình đó?
* Luật sư Phan Thụy Khanh - Phó trưởng Văn phòng Luật sư Phong & Partners, trả lời:
Trong quá trình thi công xây dựng, việc người lao động bị tai nạn trong khi đang thực hiện công việc được giao đặt ra nhiều vấn đề về trách nhiệm của người sử dụng lao động, chế độ tai nạn lao động cũng như trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng. Đối với trường hợp chị Minh Anh nêu trên, việc chồng chị chưa ký hợp đồng lao động và mới làm việc hơn 1 tháng không phải là căn cứ duy nhất để xác định chồng chị có được hưởng quyền lợi hay không. Cần làm rõ bản chất quan hệ lao động, chủ thể trực tiếp sử dụng lao động và nguyên nhân xảy ra tai nạn. Do đó, từng vấn đề cần được xem xét trên những căn cứ pháp lý khác nhau để xác định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên:
Thứ nhất, chồng chị Minh Anh có được xác định là bị tai nạn lao động không?
Khoản 3 Điều 2 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 xác định đối tượng áp dụng của Luật này bao gồm “Người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động”.
Khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định: “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.”
Theo các quy định vừa nêu trên, để xác định một vụ việc là tai nạn lao động cần xem xét các yếu tố về việc tai nạn có gây tổn thương cho người lao động và có xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ hay không. Bên cạnh đó, đối tượng áp dụng của Luật này bao gồm cả người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động. Do đó, việc giữa người lao động và người sử dụng lao động chưa ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản không phải là căn cứ để mặc nhiên loại trừ việc xem xét quyền lợi của người lao động khi xảy ra tai nạn.
Trong trường hợp của chồng chị Minh Anh, người này bị gãy chân trong lúc đang xây tường trên cao tại công trường. Nếu có căn cứ xác định chồng chị đang thực hiện công việc theo sự phân công, điều hành của người sử dụng lao động và thương tích xảy ra trong quá trình thực hiện công việc thì vụ việc có cơ sở được xem xét là tai nạn lao động theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, việc không ký hợp đồng lao động có làm mất quyền được hưởng chế độ khi bị tai nạn không?
Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.”
Theo quy định trên, việc xác định quan hệ lao động không chỉ căn cứ vào việc các bên có ký hợp đồng lao động bằng văn bản hay không mà còn phải căn cứ vào bản chất của quan hệ và quá trình làm việc thực tế. Trường hợp một người thực tế làm việc, được trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của một chủ thể thì có thể được xác định là quan hệ lao động theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, như đã nêu, Luật An toàn, vệ sinh lao động còn xác định người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động là một trong những đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh. Vì vậy, việc chồng chị Minh Anh mới làm việc hơn 1 tháng và chưa ký hợp đồng lao động không phải là căn cứ để mặc nhiên xác định người này không được hưởng quyền lợi khi xảy ra tai nạn lao động. Nếu có căn cứ chứng minh chồng chị thực tế làm việc cho một chủ thể, nhận tiền công và chịu sự quản lý, điều hành của chủ thể đó thì cần xác định quan hệ lao động thực tế để làm cơ sở xem xét các quyền lợi phát sinh.
Thứ ba, nếu chồng chị là người lao động của chủ thầu thì chủ thầu có phải bồi thường không?
Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:
“Người sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:
1. Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:
a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;
b) Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;
c) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;
3. Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
4. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau:
a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5 % đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
5. Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;”
Khoản 4 Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động về bồi thường, trợ cấp trong những trường hợp đặc thù khi người lao động bị tai nạn lao động như sau:
“Nếu người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, thì ngoài việc phải bồi thường, trợ cấp theo quy định tại Điều 38 của Luật này, người sử dụng lao động phải trả khoản tiền tương ứng với chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Mục 3 Chương này khi người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; việc chi trả có thể thực hiện một lần hoặc hằng tháng theo thỏa thuận của các bên, trường hợp không thống nhất thì thực hiện theo yêu cầu của người lao động.”
Căn cứ vào các quy định nêu trên, ngoài trách nhiệm bồi thường thì người sử dụng lao động còn có trách nhiệm kịp thời sơ cứu, cấp cứu; tạm ứng và thanh toán các chi phí y tế thuộc trách nhiệm; trả đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động theo quy định tại Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015. Theo đó, trách nhiệm của người sử dụng lao động khi người lao động bị tai nạn lao động không chỉ giới hạn ở việc trả một khoản tiền bồi thường mà còn bao gồm nhiều nghĩa vụ khác nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình điều trị và phục hồi. Mức bồi thường cũng không được xác định chỉ dựa trên việc người lao động bị thương tích, mà phải căn cứ vào mức suy giảm khả năng lao động và nguyên nhân xảy ra tai nạn.
Trường hợp tai nạn lao động không hoàn toàn do lỗi của người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường theo mức tương ứng với mức suy giảm khả năng lao động. Ngược lại, nếu tai nạn xảy ra do lỗi của chính người lao động, khoản 5 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng.
Như vậy, nếu chồng chị Minh Anh được chủ thầu trực tiếp tuyển dụng, trả tiền công, phân công công việc và quản lý, điều hành trong quá trình làm việc, thì về nguyên tắc, chủ thầu với tư cách người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ đối với chồng chị khi xảy ra tai nạn lao động.
Ngoài ra, nếu người sử dụng lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động nhưng không tham gia theo quy định thì trách nhiệm của người sử dụng lao động còn phải được xem xét trên cơ sở quyền lợi bảo hiểm mà người lao động đáng lẽ được hưởng. Bên cạnh đó, pháp luật cũng có cơ chế bảo hiểm tai nạn lao động đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động theo hình thức tự nguyện. Nghị định 143/2024/NĐ-CP quy định cụ thể về chế độ này và có hiệu lực từ ngày 01/01/2025.
Thứ tư, chủ đầu tư có phải trực tiếp bồi thường cho chồng chị hay không?
Cần phân biệt giữa trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động và trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động xây dựng.
Nếu chủ đầu tư chỉ ký hợp đồng với nhà thầu để thực hiện việc thi công và chồng chị là người lao động do nhà thầu trực tiếp tuyển dụng, quản lý, trả tiền công thì không thể mặc nhiên xác định chủ đầu tư là người có trách nhiệm trực tiếp bồi thường tai nạn lao động cho chồng chị.
Trong trường hợp này, trước hết cần xác định nhà thầu nào trực tiếp sử dụng lao động và quản lý chồng chị. Trách nhiệm bồi thường, trợ cấp theo pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động về nguyên tắc được đặt ra đối với người sử dụng lao động. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa chủ đầu tư trong mọi trường hợp đều không có trách nhiệm. Nếu tai nạn có liên quan đến hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo đảm an toàn của chủ đầu tư hoặc một chủ thể khác trong quá trình tổ chức, quản lý, giám sát thi công thì trách nhiệm của chủ thể có liên quan có thể được xem xét độc lập theo tính chất, nguyên nhân và mức độ lỗi trong vụ việc.
Thứ năm, gia đình cần làm gì để bảo vệ quyền lợi cho chồng chị?
Gia đình chị Minh Anh trước hết cần thu thập và lưu giữ các tài liệu chứng minh quá trình làm việc của chồng chị, như tin nhắn trao đổi nhận việc, thỏa thuận tiền công, chứng từ hoặc lịch sử nhận tiền công, hình ảnh tại công trường, thông tin của người trực tiếp giao việc, người quản lý và những người cùng làm việc. Đồng thời, cần lưu giữ đầy đủ hồ sơ nhập viện, hồ sơ điều trị, giấy tờ thể hiện thương tích và các tài liệu liên quan đến vụ tai nạn của cơ quan chức năng.
Gia đình cũng cần đề nghị người sử dụng lao động thực hiện việc khai báo, điều tra tai nạn lao động và lập hồ sơ giải quyết chế độ theo quy định. Việc xác định nguyên nhân tai nạn, mức độ tổn thương và mức suy giảm khả năng lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền lợi mà chồng chị được hưởng. Trường hợp người trực tiếp thuê chồng chị làm việc phủ nhận quan hệ lao động, từ chối thực hiện trách nhiệm hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho chủ đầu tư, gia đình cần căn cứ vào các chứng cứ thực tế để xác định đúng chủ thể sử dụng lao động và có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền về lao động hỗ trợ giải quyết.
Như vậy, chồng chị Minh Anh có cơ sở được xem xét các quyền lợi khi bị tai nạn xảy ra trong quá trình làm việc, dù chưa ký hợp đồng lao động bằng văn bản. Việc xác định ai phải bồi thường không thể chỉ dựa vào việc người đó là chủ thầu hay chủ đầu tư, mà trước hết phải xác định ai là người sử dụng lao động thực tế của chồng chị. Nếu chủ thầu trực tiếp tuyển dụng, trả công và quản lý chồng chị thì về nguyên tắc, chủ thầu là chủ thể trước hết phải thực hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động. Trách nhiệm của chủ đầu tư hoặc chủ thể khác chỉ được đặt ra khi có căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế xác định trách nhiệm của họ đối với vụ tai nạn.
Chuyên mục này có sự hợp tác về chuyên môn của Văn phòng Luật sư Phong & Partners. Đường dây nóng hỗ trợ tư vấn: 0236.3822678 - 0905.102425; website: phong-partners.com







