Nghĩa tình sâu nặng trên biên giới Việt – Lào (Kỳ 1: Những người lính Lào mang trong tim Tổ quốc Việt Nam)
Đường biên giới Việt – Lào qua các tỉnh Quảng Trị, TP Huế và TP Đà Nẵng kéo dài khoảng 400km, nối liền với các tỉnh Savannakhet, Salavan, Sekong của nước bạn Lào. Dải đất ấy không chỉ là một đường kẻ hành chính chia hai quốc gia, mà còn là miền ký ức chung, nơi tình hữu nghị Việt – Lào được tôi luyện bằng máu, bằng nước mắt và bằng những năm tháng thanh xuân của biết bao con người.
Trong những chuyến công tác nửa cuối năm 2025, chúng tôi có dịp men theo các bản làng sát biên, lắng nghe những câu chuyện đã lùi xa nửa thế kỷ nhưng vẫn sống động trong từng ánh mắt, từng nếp nhăn của những con người từng vào sinh ra tử vì độc lập của Việt Nam. Ở cao nguyên Salavan, chúng tôi gặp những “dũng sĩ diệt Mỹ” mang quốc tịch Lào, nhưng một phần tuổi trẻ đã gửi lại chiến trường Bình - Trị - Thiên khói lửa năm xưa.
Salavan – nơi ký ức chưa bao giờ ngủ yên
Cuối tháng 9-2025, theo lời giới thiệu của Bộ đội Biên phòng (BĐBP) Việt Nam, chúng tôi tìm đến bản Thê Rê Ban, huyện Sa Muồi (Lào). Vì đã hẹn trước, người đảng viên Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Ty Văn Ngọa ngồi chờ sẵn trước hiên nhà. Ở tuổi “xưa nay hiếm”, ngoại bát tuần, mắt đã mờ, bước chân chậm, nhưng ký ức về những năm tháng chiến đấu trên đất Việt trong ông vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua.
Ông Ngọa từng là lính trinh sát đơn vị K3, mặt trận Bình Trị Thiên. Ông từng chiến đấu ở mặt trận Khe Sanh (Hướng Hóa, Quảng Trị), tham gia đánh đồn La Vang. Những năm tháng khốc liệt ấy, bom đạn đã làm ông bị sức ép nặng phải đưa ra miền Bắc điều trị. Rồi từ đó, hành trình của người lính Lào tiếp tục mở ra: học văn hóa ở Cao Bằng, học Trường Nguyễn Ái Quốc ở Hà Nội trước khi trở lại chiến trường Quảng Trị.
Khi kể, giọng ông Ngọa trầm xuống, nhưng ánh mắt lại ánh lên niềm tự hào. Ông cẩn thận mở chiếc túi vải cũ, lấy ra bộ quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam. Hai bên ngực áo kín những huân, huy chương: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; Huân chương Quyết thắng; danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ ưu tú năm 1973; Chiến sĩ thi đua năm 1967… Ông bảo, đó là thanh xuân của mình, là minh chứng cho một thời không thể nào quên.
Sau ngày giải phóng, ông Ngọa về công tác tại Hướng Hóa, phụ trách đội chiếu bóng số 20. Khi ấy, bà con Vân Kiều, Pa Cô ít người thông thạo tiếng phổ thông, ông vừa chiếu phim vừa thuyết minh bằng tiếng bản địa để mọi người hiểu nội dung. Năm 1979, ông trở về huyện Tu Muồi (Salavan) sinh sống và tiếp tục công việc chiếu phim phục vụ bà con cho đến khi nghỉ hưu. Dù sống trên đất Lào, ông vẫn coi quãng đời binh nghiệp ở Việt Nam là phần máu thịt không thể tách rời.
Bạn thân của ông là ông Hồ Khắc Lợi, người từng tham gia lực lượng an ninh giải phóng Bình Trị Thiên. Đầu những năm 1960, ông Lợi ra Bắc học chính trị rồi trở lại chiến trường. Năm 1979, ông chuyển sang Lào sinh sống, mang quốc tịch Lào và sau đó giữ nhiều vị trí lãnh đạo tại huyện Sa Muồi và tỉnh Salavan.
Hai người lính năm xưa, một thời “vào sinh ra tử”, nay tuổi cao sức yếu nhưng vẫn thường nhắc chuyện cũ. Họ vẫn liên lạc, thăm hỏi đồng đội ở Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế (nay là TP Huế). Với con cháu, những câu chuyện ấy không chỉ là ký ức, mà là bài học về lòng biết ơn và về mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào được hun đúc qua lửa đạn.
Những kỷ vật vô giá – chuyện bây giờ mới kể
Ở các bản giáp biên của Lào, không hiếm gia đình từng có người tham gia cách mạng Việt Nam. Có người trực tiếp cầm súng, có người đi dân công hỏa tuyến, làm đường, gùi lương thực, vũ khí cho bộ đội. Sau khi hoạch định biên giới, cuộc sống thay đổi, giấy tờ thất lạc dần theo thời gian, theo những lần chuyển bản, cháy nhà. Có nơi còn phong tục chôn “tài sản riêng” theo người đã khuất, khiến nhiều huân chương, bằng khen không còn được lưu giữ.
Bản A Xóc, huyện Sa Muồi nằm gần cửa khẩu phụ Cóc, đối diện thôn Sa Trầm (xã Ba Nang, huyện Đakrông, Quảng Trị). Mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào khiến chúng tôi dù lần đầu đặt chân tới đây vẫn được bà con đón tiếp như người thân của họ trở về. Anh Hồ Văn Miên kể về cha mình là ông Hồ Tép, thuộc quân số Đoàn 50 Bình Trị Thiên, từng được tặng Bằng khen vì thành tích hoàn thành nhiệm vụ năm 1961. Ông Tép làm y sĩ ở bản Coóc (nay là Sa Trầm), sau đó trở về Lào tiếp tục công việc cho đến khi qua đời năm 2001.
Anh Miên ngậm ngùi: Ngày ấy, gia đình có cả một xấp giấy tờ công tác của cha, nhưng vì nghĩ đã lâu, không còn giá trị sử dụng, có lúc thanh niên trong bản đến chơiđịnh lấy cuốn thuốc hút. Câu chuyện khiến chúng tôi lặng người. Những tờ giấy từng ghi dấu cống hiến của một con người cho lịch sử, suýt nữa trở thành làn khói mỏng giữa núi rừng.
Không chỉ gia đình anh Miên, nhiều nhà ở A Xóc vẫn còn giữ giấy khen, bằng khen, thậm chí Bằng Tổ quốc ghi công. Bà Hồ Thị Thá kể, thời trẻ bà đi dân công hỏa tuyến, có ba năm nấu ăn cho xã Húc Nghì (Đakrông). Tại đây, bà nên duyên với ông Hồ Văn Roam. Khi ông còn sống, ông vẫn kể cho các con nghe chuyện đánh đồn Tà Cơn. Giờ đây, những câu chuyện ấy được truyền lại cho cháu chắt như một phần gia phả của gia đình.
Trên đường rời A Xóc, chúng tôi tình cờ gặp một thanh niên chừng 20 tuổi. Khi hỏi có biết gia đình nào từng tham gia cách mạng Việt Nam không, cậu nhanh nhảu: “Ông nội em từng đánh đồn Tà Cơn. Ngày còn sống, ông vẫn về thăm họ hàng ở Việt Nam. Em là người Lào nhưng nói tiếng Việt sành sỏi”.Câu trả lời mộc mạc ấy làm chúng tôi xúc động…Thời gian đã qua lâu, biên giới đã phân định, hai quốc gia độc lập với chủ quyền riêng. Nhưng lịch sử không bị chia cắt. Những đứa trẻ sinh ra trên đất Lào vẫn lớn lên cùng câu chuyện đánh Mỹ ở Việt Nam như nghe cổ tích.
Dọc 400km biên cương, giữa đại ngàn Trường Sơn, có những người mang quốc tịch Lào nhưng từng coi mình là “người lính Cụ Hồ”. Có những gia đình hai bên biên giới chung huyết thống, chung ký ức. Có những huân chương lặng lẽ nằm trong túi vải cũ, nhưng giá trị của nó thì sáng lấp lánh qua năm tháng.
Tình hữu nghị Việt – Lào không chỉ được ghi trong những văn kiện ngoại giao, mà được khắc sâu trong đời sống bình dị của người dân biên giới. Nó hiện hữu trong những lần thăm hỏi đồng đội cũ, trong những câu chuyện kể bên bếp lửa, trong giọng nói song ngữ của thế hệ trẻ hôm nay.
Rời Salavan, chúng tôi hiểu rằng sự bền vững của mối quan hệ Việt Nam – Lào không phải điều tự nhiên mà có. Nó được vun đắp bằng sự hy sinh thầm lặng của biết bao con người như ông Ty Văn Ngọa, ông Hồ Khắc Lợi, ông Hồ Tép, bà Hồ Thị Thá… Những con người bình dị nhưng mang trong tim hai tiếng “nghĩa tình”.
Biên giới có thể là ranh giới của lãnh thổ, nhưng không thể là ranh giới của ký ức. Và chừng nào những câu chuyện ấy còn được kể, chừng đó tình hữu nghị Việt – Lào vẫn sẽ còn được tiếp nối, bền chặt như dãy Trường Sơn hùng vĩ chạy dọc 400km biên cương.
(còn nữa) Công Hạnh
Dòng sự kiện:KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC
Đồng ý chủ trương lập đề án xây dựng trường THPT tại phường Sơn Trà
Đà Nẵng: Đẩy mạnh tái hòa nhập cộng đồng, kéo giảm tỷ lệ tái phạm tội dưới 2%
Học lịch sử qua trải nghiệm thực tế tại Bảo tàng Hồ Chí Minh
Đà Nẵng quyết liệt phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngay từ đầu nhiệm kỳ
Đà Nẵng triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng










