Một nhà báo tài ba xứ Quảng
1- Trong lời bạt cuốn sách “Lưu Quý Kỳ - người nghệ sĩ tài ba độc đáo” đã nhìn nhận: “Cùng thời, có rất nhiều cây bút viết ký và chính luận tài hoa, sắc sảo như: Thép Mới, Phan Quang, Trần Bạch Đằng, Thái Duy... cũng chung một mục đích phục vụ cách mạng. Nhưng, trong dàn hợp xướng hào hùng đó, người đọc vẫn dễ dàng nhận ra giai điệu thâm trầm, sắc sảo của Lưu Quý Kỳ”.
Nhà báo Lưu Quý Kỳ sinh năm 1919, tại xã Minh Hương, Điện Bàn, Quảng Nam, bố làm nghề hớt tóc, mẹ bán hàng rong... 16 tuổi đã có truyện ngắn đăng ở một tờ báo lớn, 17 tuổi đã bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của mình trong một bài báo có vấn đề tầm cỡ: “Nhiệm vụ thanh niên”. Đó là buổi đầu hé mở một tài năng. Lưu Quý Kỳ từng làm thư ký tòa soạn của nhiều tờ báo như Dân, Dân tiến, Dân muốn, Tiến tới, Lao động phổ thông, Công luận, Điện tín…
Ông hoạt động báo chí trên một địa bàn rộng lớn từ miền Nam tới miền Bắc, từ ở trong nước đến 20 nước khác nhau trên thế giới. Ông đi bộ hàng năm trời dưới mưa bom bão đạn, tay bút, tay súng trên chiến trường, gom nhặt thực tiễn để viết nên những tác phẩm sâu sắc, đầy ý nghĩa, và tính chiến đấu của một nhà báo cách mạng. Vừa là người trực tiếp làm báo nhưng cũng là người làm công tác quản lý báo chí. Bắt đầu từ tháng 8-1937, ông thoát ly gia đình và được kết nạp vào Đảng, phụ trách công tác tuyên huấn của chi bộ Đảng ở Hội An... rồi đến sau này ông làm đến chức vụ Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, đồng thời cùng với Phan Thao đồng chủ bút tuần báo Thống Nhất. Tháng 10-1981, tại Đại hội X của Tổ chức Quốc tế các nhà báo (OIJ) ở Moscow, nhà báo Lưu Quý Kỳ được bầu vào đoàn Chủ tịch và là Phó Chủ tịch OIJ. Ông nhận 6 huy chương báo chí nước ngoài, trong đó có huy chương “Nhà báo cống hiến cho hòa bình và hữu nghị” của OIJ.
Đó chỉ là vài nét về cuộc đời, sự nghiệp nhà báo tài năng Lưu Quý Kỳ. Điều mà người viết bài này muốn đề cập, đó là những câu chuyện thú vị, từ những bài báo của ông đã được con trai - nhà báo Lưu Đình Triều (báo Tuổi Trẻ) và nhà thơ Lê Minh Quốc sưu tầm tuyển chọn với gần 500 trang sách, được NXB Trẻ ấn hành đã để lại một di sản “báo chí” quý báu cho thế hệ người cầm bút hôm nay trân trọng, gìn giữ và học tập. Lưu Quý Kỳ chứng tỏ là một tài năng báo chí, đứng cùng với những tên tuổi khác rất đáng khâm phục của quê hương đất Quảng mà tiêu biểu là nhà báo Huỳnh Thúc Kháng, nguyên quyền Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
2- Trong bài báo “Nước về biển cả, sông núi còn đây” nhà báo Lưu Quý Kỳ viết về sự ra đi của Bác. Bài báo được viết với giọng văn tả mà không tả, luận bình mà như không luận bình, ý tứ nhẹ nhàng, giản dị tự nhiên nhưng sâu sắc, gợi mở nhiều điều trong sâu thẳm mỗi một trái tim người Việt Nam mỗi khi nghĩ về Bác... Cho đến ngày mồng 2-9, Nha khí tượng phát đi một thông báo khô khan như thường lệ “Cơn bão số 3 đã hình thành giữa kinh độ X, vĩ độ Y”. Trời trở nên oi bức. Độ ẩm tăng lên. Ông bà ta thường gọi hiện tượng này là trở trời. Mà trở trời thì những người già yếu trở bệnh”. Tối hôm mồng một, không thấy Bác dự mít-tinh mừng quốc khánh, người dân thủ đô càng cảm thấy oi bức hơn. Rồi tác giả mô tả không khí khi Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam phát đi thông cáo đặc biệt. “Bác “nằm xuống” ư? Không, Bác có nằm xuống đâu? Bác đứng lên đấy chứ! Tư tưởng Bác đang vươn lên, lan tỏa ra. Bác “qua đời” ư? Không, đời Bác đã qua đâu! Thế hệ Hồ Chí Minh mới bắt đầu. Thời đại Hồ Chí Minh đang tiến bước...”. Đôi dép cao su vẫn theo Bác đến ngày hôm nay, đến đây. Lần đầu tiên trong lịch sử một vị Chủ tịch nước mang đôi dép của người cùng khổ. Và cũng từ đó văn chương thế giới đổi tên đôi dép của người nô lệ là “đôi dép Hồ Chí Minh”.
Là một bài báo chính luận nhưng Lưu Quý Kỳ có cách đặt vấn đề rất độc đáo, lời văn thanh thoát, ẩn chứa hàm lượng trí tuệ, đặc biệt là những tình cảm với Bác mà mọi người con miền Nam đêm ngày mong ngóng nước nhà thống nhất, đón Bác vào thăm. Những câu văn sâu lắng của ông mỗi khi đọc lên sao còn đọng mãi cảm xúc khó tả, bởi sự tự tại minh triết của lý lẽ, ngôn từ và cả tình cảm người viết ra. Hãy nghe lại một đoạn văn ông viết ở đoạn cuối bài báo “Núi sông là nguồn của nước. Nước làm cho lúa thêm bông, hoa thêm thắm. Nước có thể trôi đi, nước có thể về biển cả, nhưng núi sông còn lại, ngàn đời xanh tươi. Mặt trời lóa ra ánh nắng. Nắng có thể xế tà nhưng mặt trời vẫn sáng chói, mỗi ngày mỗi mang lại chúng ta ánh bình minh. Hoa bay về cội, cành trổ thêm hoa... Bác Hồ vĩnh biệt chúng ta”.
3- Chuyện kể trong bài báo “Hà Nội chúng ta” khi đọc chắc chắn nhiều người sẽ ngỡ ngàng bởi câu chuyện khá bất ngờ đến những tình cảm, yêu mến, tự hào. Đó là khi tác giả trong một lần đến một khách sạn lớn ở Châu Âu (nơi chọn làm địa điểm cho Đại hội điện ảnh quốc tế). Khách sạn có một thông lệ mỗi ngày người khách nào đến mà được đánh giá là “đặc biệt” thì lá quốc kỳ của nước đó được treo trên nóc khách sạn trong ngày. Và trước khi Lưu Quý Kỳ đến thì khách sạn treo cờ nước Anh, vì có viên thị trưởng London mới đến. Lúc Lưu Quý Kỳ đến thì lá cờ ngày hôm sau được đổi là của Việt Nam. Nghe nói viên thị trưởng London bị bẽ mặt, đến gặp ban giám đốc khách sạn để phản đối và ông đã được nghe giải thích. Một câu chuyện rất thời sự khi chúng ta đang kỷ niệm “45 năm Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”. (12-1972 – 12-2017): “Ngài hãy nhớ lúc phát-xít Đức phóng bom V2 xuống London của ngài như thế nào. Còn Hà Nội bị bom Mỹ suốt mấy năm nay, đã làm cho thế giới kinh ngạc như thế nào. Cũng theo thông lệ nói trên, người khách có lá cờ của nước mình treo trên nóc nhà thì bàn ăn của người ấy cũng là chiếc bàn danh dự và trên bàn cũng có lá cờ nước mình.
Lưu Quý Kỳ bày tỏ suy nghĩ, lúc đó ông cảm giác vừa xấu hổ vừa tự hào. Xấu hổ vì mình không phải là một anh hùng dân tộc hay một người nào đó tầm vóc xứng đáng hơn để ngồi vào bàn ăn đó. Tự hào vì vinh dự là người Việt Nam, đến từ thủ đô Hà Nội. Và điều cũng không kém phần đặc biệt, bắt đầu từ năm 1967, khi thành phố Hà Nội bắt đầu bị bom Mỹ, thì món “bò xào Hà Nội” được ghi vào thực đơn của khách sạn ở tận trời Âu.
Và Hà Nội cũng thật thú vị trong lời kể của cô hầu bàn, khi cô nghe từ một người khách Pháp. “Tin tức về Hà Nội làm tôi buồn về Paris của tôi trước kia. Chỉ mới bị Hitler dọa ném bom Paris, thế là Petain vội vã tuyên bố Paris là thành phố bỏ ngỏ. Lịch sử phải ghi là Paris đầu hàng quá sớm. Lỗi không phải nhân dân Paris chúng tôi, nhưng bọn thỏa hiệp đã làm chúng tôi mang nhục”. Chỉ đơn giản một bài báo nói về chuyến đến ở một khách sạn, nhưng Lưu Quý Kỳ đã khéo dẫn dắt mọi người đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, thú vị, nhiều thông tin lịch sử, những quan điểm, chính kiến của nhiều giới và đặc biệt hơn là tỏ rõ phẩm chất nhà báo cách mạng, ngòi bút và những bài báo là vũ khí chiến đấu thực sự.
4- Bài báo “Thêm một bó hoa”, Lưu Quý Kỳ viết sự kiện chị Trần Thị Lý, người con gái Việt Nam anh hùng quê hương Gò Nổi (người cùng quê tác giả), bay trên cái chết, với thân mình mảnh mai, chỉ 23 kg mà hơn 40 vết thương rỉ máu được giải thoát từ tay quân thù, đưa ra miền Bắc điều trị trong niềm xúc động của nhiều người. Ai cũng nghĩ tác giả sẽ viết bằng lời văn chất đầy căm hận, nhưng không, ông lại đi vào góc riêng tự sự, đàm giải nhưng lại có sức nặng khôn cùng về những lời tố cáo tội ác của quân thù trước dư luận và lương tri loài người.
“Một chiếc giường bệnh ở miền Bắc đã trở thành nơi gặp gỡ của hoa. Hoa trắng, hoa đỏ, hoa tím, hoa vàng. Đủ màu sắc hoa bao vây một người con yêu Tổ quốc. Từ miền Nam, một người con gái ra miền Bắc. Chị đi bằng cách gì? Bằng con đường nào? Không một ai thấy cần hỏi điều đó. Khi yêu nhau, con người có trăm nghìn cách, có cả vạn con đường để đến với nhau. Thân thể, hình dáng, đời riêng của người con gái ấy thế nào? Không một ai băn khoăn với chi tiết đó. Người ta chỉ cần biết một dấu riêng của chị là: Từ miền Nam ra, đầy mình thương tích, thế là đủ cho bao nhiêu hoa thắm bay về”. Đại diện cho những anh chị em văn nghệ miền Bắc, tác giả cũng đã đến bên người con gái đồng hương gửi thêm bó hoa. Và theo tác giả, bó hoa còn nhỏ quá! Vì bao nhiêu bông hoa nữa đang nở ra trong lao động thực tế của nhiều bạn văn nghệ sĩ chưa kịp về. Nhưng hẵng kết tạm thành bó hoa sau đây để nói lên một lòng thiết tha với quê nhà yêu quý: “Anh nhớ sông Thu Bồn/ Nhớ rừng thông Cửa Đại/… Chị đẹp như quê mình/ Tỉnh Quảng Nam anh dũng”.
Trên đây chỉ là ba trong số hàng nghìn bài báo của Lưu Quý Kỳ mà người viết trích dẫn. Theo nhà báo Phan Quang - nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Phó Chủ tịch Tổ chức Quốc tế các nhà báo –OIJ, (tiếp sau người tiền nhiệm Lưu Quý Kỳ) thì “Lưu Quý Kỳ, cũng như tất cả những người cầm bút cùng thế hệ với anh hoặc trước anh, viết báo, làm văn do năng khiếu bẩm sinh, làm gì có trường đào tạo và cũng chẳng được ai bồi dưỡng cho”... Với người viết bài này, tiếp cận Lưu Quý Kỳ dù chỉ ở riêng góc độ những bài báo của ông thôi cũng đủ để khẳng định một tài năng, một nhà báo lớn mà thế hệ những người làm báongười làm báo hôm nay có thể tìm thấy rất nhiều điều để học tập. Bởi chỉ có lòng say mê với nghề mới có thể nâng tầm khát vọng, tạo cảm hứng để không ngừng tìm tòi, phát hiện, viết cái hôm nay không trùng lắp hôm qua.
VÕ VĂN TRƯƠNG
----------------------
Bài viết có tham khảo, trích dẫn từ sách Lưu Quý Kỳ - người nghệ sĩ tài ba độc đáo, NXB Trẻ ấn hành năm 2009.







