Ngọt vị sông và mặn vị đời
Trọn một đời nghề đứng trên bục, Lê Văn Huân được đồng nghiệp và học trò quý mến bởi cái tâm trong sáng. Trong quá trình dạy học, anh đã cầm bút để viết lên những điều mình gặp trong cuộc đời, ghi lại những yêu thương, ân tình của đất và người những nơi mà mình đã đi qua, đã từng gắn bó; đặc biệt là vùng đất đã nuôi anh khôn lớn. Các tác phẩm của anh xuất hiện trên nhiều báo, tạp chí, trung ương và địa phương. Và bây giờ, trước mặt chúng ta là tập Tạp văn và truyện ngắn “Hương sắc quê nhà” (NXB Văn học, 2026) ghi thêm dấu mốc thứ hai sau quãng đời làm nhà giáo khá thành công của thầy giáo Lê Văn Huân.
Cũng phải nói rõ rằng, nếu không sinh trưởng trong một gia đình, gia tộc có truyền thống trọng cái chữ và đam mê sách, thì có lẽ thầy Huân cũng chỉ sống lặng lẽ đoạn cuối đời mình như bao thầy giáo đã hưu. Đây, ta thử thưởng lãm cái việc “Phơi sách sau lũ” mà anh ghi lại: “Phơi được hai ngày, ông bảo tôi ra giúp ông đảo sách. Ông dặn chừng rằng tay phải nhè nhẹ lật giở từng trang, không được để rách tí nào. Đêm đến, ông căng bạt, che lều bằng những tấm ni-lông và thắp cả đèn ở đó để canh”. Phải xem sách như sinh mệnh mình, ông cháu này mới tận tường và nâng niu từng trang sách ướt trên đôi tay run run của chính mình sau cơn lũ!
Văn Lê Văn Huân giản dị, dễ thương. Ngọt ngào, trong mát như dòng nước con sông Trầu phía Tây và con sông Tịch Tây phía Nam - hai con sông đầu nguồn của dòng sông Bến Ván trước khi nhập vào sông Trường Giang, cùng đổ ra vịnh An Hòa về biển. Sông Trầu ngọt từ đỉnh Hòn Rơm lọc qua tầng tầng thác nước của Hố Giang Thơm, rồi xuôi về tới Đập Trà Tây xã Tam Mỹ. Nước Sông Tịch Tây ngọt từ chân Núi Con Heo, quành ôm Núi Thành, chạy ra đập Bà Quận. Xin hãy cùng tôi lắng cùng dòng chảy ngọt ngào, trong veo của tình anh qua “Miên man một khúc sông Trầu”: “ngắm cảnh người người đứng hai bên dòng sông câu cá, lòng tôi luôn mang một cảm giác bình yên và thêm yêu xứ sở vô cùng”. Còn đây là “Rừng dừa nước Tịch Tây”: “Mùa này là mùa rạm đi về cửa biển mà bà con nơi đây gọi là mùa rạm đem cơm cho chồng”. Văn của Lê Văn Huân cũng nặng vị muối đời với nhiều tư liệu cổ, mặn mòi cái vị chè hai của dòng sông Bến Ván khi đón hai nguồn cùng nhập về biển cả mênh mông: “Ao bà Bân là nơi mà các quân sĩ đào để lấy nước cho voi uống, giếng ông Cát là do quân quan nhà Nguyễn làm để lấy nước dùng cho việc ăn uống và tắm rửa” (Bến Ván - Dòng sông quê hương tôi). Bên cạnh độ nặng của tư liệu lịch sử là những dòng văn ngồn ngộn vốn sống thường ngày của đời sống dân quê dù chỉ là “Một thoáng quê hương”: “Không đâu lý tưởng bằng chui vào các bẹ dừa để tình tự. Say sưa quên cả việc nước rút. Nên anh chị bống đành nằm lại trong kẹt bẹ dừa chờ nước lên”...
Truyện ngắn của Lê Văn Huân cũng giàu tư liệu và vốn sống, tính hư cấu chỉ thoảng qua nên nhân vật truyện ít đa dạng về tính cách và những dằng xé nội tâm đa chiều. Tất cả những Cô Hai trong “Giếng cô giữa làng”, hai nhân vật trong “Bà và Nó”; chuyện tình giữa cô giáo Ánh và chàng sĩ quan bộ đội Hùng trong “Em đợi đến mùa xuân này”... đều được miêu tả bằng thủ pháp thời gian đơn tuyến và tính cách nhất phiến. Anh thường đặt người đọc vào thế hẫng hụt. Kết thúc rồi mà cứ tiêng tiếc vì chưa thấy được cái tận cùng của số phận nhân vật. Hai truyện có yếu tố huyền thoại, tâm linh như “Giếng cô giữa làng”, “Thuyền hoa thơ ấu xuôi về bến nhớ” rất gợi khi vào chuyện, nhưng cũng chưa được tác giả khai thác để khắc họa sâu hơn nhân vật chính của mình. Điều đáng trân trọng chính là sự neo giữ những giá trị lịch sử, văn hóa cổ truyền của quê hương mình với những tên đất, tên người đã và đang dần bị mất đi và quên lãng qua những biến động dữ dội của quá trình đô thị hóa.
Văn của Lê Văn Huân không chỉ có miêu tả mà quan trọng là những lời kết có hậu như lời khuyên của một thầy giáo trước học trò, như tiếng thở dài của một tâm hồn luôn biết trân trọng những nét đẹp quá khứ. Phải nói lên để mọi người cùng thương nhớ, lưu giữ, chứ nếu không, cứ sợ nó mất đi. Đó là “Ân tình của những lời ru”, “Ký ức những ngày tháng Chạp” với những làn “Mưa xuân” nhè nhẹ. Rồi “Ký ức về chợ quê Cà Đó”, “một đêm Giáng Sinh” thuở Nhà thờ mới dựng Tháp chuông; chuyện “bắt cá mùa lụt”, sức quyến rũ của “mùi hoa dủ dẻ”; cái da diết, tái tê khi ngang qua “phố tím bằng lăng”, những kỷ niệm khôn nguôi của tuổi học trò khi đến “Tháng sáu mùa thi”, không khí linh thiêng trước “Lời nguyện trên đảo”... cùng các đặc sản chứa đựng cả một đặc trưng của ẩm thực quê nhà với “Đậm đà nước vối quê ta” cùng những quán “Mỳ Quảng Cây Trâm” ăn một lần là nhớ... Đó còn là nỗi lòng người chú xa quê: “chiều 29..., chú ra ga tàu hỏa... Nhìn đoàn tàu để gởi một chút nhớ thương về với quê nhà” (Tình quê); là cái hương vị quê hương “không bao giờ quên được”: “của bánh đúc gạo Ba trăng đem chấm với mắm nêm dằm trái ớt xanh” (Một thời cơm gạo Ba Trăng)...
Dòng đời cũng như dòng sông, “sông có khúc, người có lúc” và dòng văn của Lê Văn Huân trong tập sách này cũng ngọt - mặn đan xen, cái cốt lõi là anh đã lưu lại được những ký ức để thế hệ mai sau còn nhận ra gương mặt của quê hương mình một thuở xa xưa: “Đời người như một dòng sông chảy mải miết rồi cũng có lúc trở về bến cũ mang theo những kỷ niệm, hay ít nhất cũng giữ lại trong lòng bao ký ức không phai” (Miên man một khúc sông Trầu). Xin vui mừng và trân trọng giới thiệu tập Tạp văn và truyện ngắn “Hương sắc quê nhà” của Lê Văn Huân cùng bạn đọc xa gần…
Mai Bá Ấn

