Quản lý chặt tài nguyên khoáng sản để tạo dư địa phát triển bền vững

Thứ hai, 22/06/2026 06:30

Nghị quyết số 16-NQ/TU của Thành ủy Đà Nẵng về tăng cường quản lý, bảo vệ tài nguyên địa chất và khoáng sản mang ý nghĩa như một bước siết chặt kỷ cương đối với lĩnh vực vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ thất thoát, tiêu cực, đồng thời định hình tư duy quản trị tài nguyên theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững, đưa tài nguyên khoáng sản thực sự trở thành nền tảng cho tăng trưởng dài hạn của thành phố trong giai đoạn mới.

Kiểm soát việc khai thác gắn liền với phục hồi môi trường.
Đà Nẵng đang triển khai nhiều công trình, dự án trọng điểm, nhu cầu nguồn khoáng sản thông thường làm VLXD rất lớn

Cơn "khát" khoáng sản làm VLXD ngày càng lớn

Sau khi hợp nhất với tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng trở thành địa phương có diện tích lớn, sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng hơn trước, bao gồm các mỏ đá xây dựng, đất san lấp, cát sỏi lòng sông, cát trắng, đất sét và nhiều loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường. Đây là lợi thế quan trọng phục vụ mục tiêu phát triển đô thị, hạ tầng giao thông, logistics, công nghiệp và các khu kinh tế động lực trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn cung vật liệu xây dựng hiện vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Nhiều công trình trọng điểm, dự án đầu tư công, dự án giao thông kết nối vùng từng gặp khó khăn về nguồn cát, đá, đất đắp nền. Tình trạng khan hiếm cục bộ khiến giá vật liệu tăng cao, ảnh hưởng đến tiến độ thi công và hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, hoạt động khai thác khoáng sản trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp ở một số khu vực. Không ít trường hợp lợi dụng địa bàn giáp ranh, khu vực vùng núi, vùng ven hoặc các tuyến sông để khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép như ở xã Thu Bồn, Thạnh Bình vừa qua. Những tồn tại này không chỉ gây thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách mà còn tạo nguy cơ sạt lở, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống người dân và làm méo mó môi trường đầu tư kinh doanh.

Trong bối cảnh thành phố đang tập trung phát triển các dự án hạ tầng quy mô lớn như: cảng biển, sân bay, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các tuyến giao thông kết nối vùng, hệ thống đô thị mới,… nhu cầu vật liệu xây dựng sẽ tiếp tục gia tăng trong nhiều năm tới. Vì vậy, bài toán đặt ra không đơn thuần là khai thác thêm khoáng sản mà phải quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên này một cách khoa học, tiết kiệm và hiệu quả.

Chuyển đổi số để bịt các "kẽ hở" quản lý

Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là công tác giám sát hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn rộng sau hợp nhất. Nếu tiếp tục quản lý theo phương thức thủ công sẽ rất khó phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi khai thác trái phép, khai thác vượt công suất hay gian lận về sản lượng. Vì vậy, việc Nghị quyết 16-NQ/TU đặt trọng tâm vào ứng dụng chuyển đổi số, khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo được xem là giải pháp mang tính đột phá. Theo đó, thành phố cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu số thống nhất về địa chất và khoáng sản trên toàn địa bàn. Hệ thống này phải tích hợp đầy đủ thông tin về quy hoạch, giấy phép khai thác, trữ lượng, sản lượng, doanh nghiệp khai thác, bến bãi tập kết và phương tiện vận chuyển. Cùng với đó, cần áp dụng công nghệ giám sát trực tuyến tại các mỏ thông qua camera, thiết bị định vị GPS, hệ thống cân điện tử kết nối dữ liệu thời gian thực với cơ quan quản lý. Mọi hoạt động khai thác, vận chuyển và tiêu thụ khoáng sản cần được số hóa nhằm kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc và khối lượng vật liệu lưu thông trên thị trường. Với lợi thế là một trong những địa phương đi đầu cả nước về chuyển đổi số, thành phố có điều kiện thuận lợi để xây dựng mô hình "quản trị khoáng sản thông minh". Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát và khai thác khoáng sản không chỉ giúp giảm sự phụ thuộc vào các hoạt động kiểm tra thủ công mà còn nâng cao hiệu quả giám sát, tăng tính minh bạch và hạn chế các hành vi tiêu cực. Bên cạnh đó, dữ liệu số cần được liên thông giữa các ngành tài nguyên môi trường, công an, xây dựng, thuế, giao thông và chính quyền địa phương nhằm hình thành mạng lưới quản lý đồng bộ từ khai thác đến tiêu thụ.

Cần chuyển đổi số để bịt các "kẽ hở" quản lý trong hoạt động khai thác khoáng sản hiện nay

Ngoài ra, thực tiễn cho thấy, nơi nào chính quyền cơ sở thiếu quyết liệt, nơi đó dễ phát sinh khai thác khoáng sản trái phép. Do vậy, cần nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao tính chủ động trong công tác quản lý địa bàn. Đối với các khu vực giáp ranh, vùng núi hoặc những nơi từng xảy ra vi phạm, cần xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên giữa lực lượng công an, thanh tra, chính quyền cơ sở và các đơn vị liên quan. Việc tuần tra, kiểm tra cần được thực hiện liên tục thay vì chỉ theo đợt cao điểm. Theo đó, thành phố cần rà soát toàn bộ các bến bãi tập kết vật liệu xây dựng, phương tiện vận chuyển khoáng sản và các cơ sở kinh doanh vật liệu để kiểm soát nguồn gốc hàng hóa. Những trường hợp kinh doanh khoáng sản không có hóa đơn chứng từ hợp pháp phải bị xử lý nghiêm. Đặc biệt, cần tập trung đấu tranh với các hành vi tiếp tay, bảo kê hoặc lợi dụng chức vụ quyền hạn để hợp thức hóa hồ sơ, chứng từ liên quan đến khoáng sản. Đây là nguyên nhân làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước và gây thất thoát lớn nguồn tài nguyên.

Hướng tới ngành khai khoáng xanh và bền vững

Nghị quyết 16-NQ/TU đến năm 2030, 100% dự án khai thác khoáng sản mới phải áp dụng công nghệ phù hợp, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, nâng cao hiệu suất khai thác và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Song song với đó, các cơ sở chế biến khoáng sản cần được khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển các ngành công nghiệp chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng của tài nguyên, giảm dần tình trạng khai thác và xuất khẩu khoáng sản ở dạng thô. Đối với nguồn cát trắng, cần ưu tiên thu hút các nhà đầu tư có năng lực để phát triển các dự án chế biến sâu phục vụ sản xuất kính kỹ thuật, vật liệu công nghệ cao và các ngành công nghiệp phụ trợ. Việc khai thác phải gắn với thu hồi tối đa khoáng sản có ích, sử dụng hiệu quả tài nguyên và tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, phù hợp với định hướng tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và mục tiêu giảm phát thải mà thành phố đang theo đuổi.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, yêu cầu bảo vệ môi trường cần được quán triệt và thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời dự án, từ khâu quy hoạch, cấp phép, thăm dò, khai thác, chế biến đến khi kết thúc hoạt động mỏ. Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát cần được tăng cường nhằm bảo đảm doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về môi trường, quản lý tài nguyên và an toàn lao động. Đồng thời, cần nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường và thực hiện nghiêm các cam kết đã được phê duyệt. Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng công tác hoàn thổ, cải tạo và phục hồi môi trường sau khai thác, nhất là đối với các khu vực có nguy cơ suy thoái đất, mất cảnh quan hoặc ảnh hưởng đến đời sống dân cư. Các cơ quan chức năng cần thường xuyên giám sát, đánh giá kết quả phục hồi môi trường, bảo đảm các khu vực sau khai thác được tái tạo và đưa vào sử dụng hiệu quả, góp phần hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái và lợi ích cộng đồng.

Kiểm soát việc khai thác gắn liền với phục hồi môi trường.

Ngoài ra, thành phố cần khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp tái sử dụng chất thải, đất đá thải và phụ phẩm từ hoạt động khai thác khoáng sản để sản xuất vật liệu xây dựng hoặc phục vụ các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Việc thúc đẩy mô hình "khai thác xanh – chế biến sạch – sử dụng hiệu quả" không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm áp lực lên nguồn khoáng sản tự nhiên mà còn góp phần hình thành chuỗi giá trị khai khoáng bền vững, tăng năng lực cạnh tranh của ngành và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường trong dài hạn.

Minh Sơn